Đơn giá 462-2014: Giá nhân công Hà Nội thấp hơn cả Hà Giang

Vừa qua Hà Nội đã ban hành đơn giá 462 năm 2014 (bổ sung, điều chỉnh một số nội dung trong bộ đơn giá 5481/2011). Việc bổ sung các mã hiệu đơn giá mới là bình thường, tuy nhiên đã có một hướng dẫn gây “sốc” cho các Nhà thầu cũng như Chủ đầu tư, đó là việc đơn giá nhân công rất thấp, chỉ tương đương với khoảng thời kỳ năm 2009.
Tải đơn giá 462-2014 của TP Hà Nội

Lý do của việc điều chỉnh giá nhân công này là do hiện nay Thành phố Hà Nội hướng dẫn lại cách tính lương theo lương cơ sở (ban hành tại Nghị định 66/2013), trên cơ sở vẫn vận dụng các hệ số cấp bậc lương được ban hành tại Nghị định 205/2004 của Chính phủ (Đã được bãi bỏ bởi Nghị định 49/2013). Vấn đề là lương cơ sở thì rất thấp (chỉ 1.150.000 đồng/ tháng), còn trước đây tính theo lương tối thiểu vùng (Năm 2011 là 1.350.000 đồng, năm 2012 là 2.000.000 đồng, năm 2013 là 2.350.000 đồng và năm 2014 là 2.700.000 đồng – tính cho vùng 1). Như vậy có thể thấy, với cách tính mới của Hà Nội, lương chỉ tương đương thời điểm khoảng năm 2010.
LV tự cảm nhận rằng, lý do chính Hà Nội giảm giá nhân công một cách đột ngột chính là định hướng thị trường về phù hợp với mặt bằng chung đơn giá Nhân công thời điểm hiện tại. Khi mà thị trường xây dựng, bất động sản đang rơi vào trầm lắng thì việc điều chỉnh nhân công giảm là điều cần thiết. LV dùng từ định hướng bởi việc đấu thầu – ký hợp đồng với đơn giá nhân công như thế nào hoàn toàn do Chủ đầu tư và Nhà thầu quyết định, chỉ có công trình 30% vốn ngân sách trở lên tại địa bàn Hà Nội mới phải bắt buộc áp dụng bảng giá nhân công ở trên. Có điều quyết định công bố đơn giá mới này sẽ kéo mặt bằng giá nhân công xuống, điều đó có lợi cho các Chủ đầu tư là điều chắc chắn.
Có một bạn bên Nhà thầu nhắn tin cho LV hỏi: “Anh ơi, bọn em mà áp dụng Quyết định 462 của Hà Nội thì “chết” đến nơi rồi, lấy gì mà ăn, bên em chuyên làm công trình vốn ngân sách”. LV chỉ cười mà nói “Nhà nước giảm bớt đơn giá nhân công thì Nhà thầu phải giảm bớt phần chi A đi thôi”. Cậu ấy buồn bã trả lời “Thành luật rồi mà anh, sao giảm được”….
Đánh giá chủ quan của LV:
+ Đơn giá nhân công không nên tính theo công thức mà các địa phương nên dựa trên yếu tố thị trường chung, đưa ra một bảng công bố đơn giá nhân công kiểu như công bố giá vật liệu hiện trường hiện nay vẫn làm.
+ Hà Nội đưa ra cách tính đơn giá nhân công dựa trên lương cơ sở, vậy nếu cách tỉnh cũng áp dụng cách này thì rõ ràng những tỉnh như Hà Giang chẳng hạn, sẽ có đơn giá nhân công cao hơn nhiều so với Hà Nội. Điều này là không phù hợp với các vùng lương mà Chính phủ ban hành trong Nghị định về lương tối thiểu vùng

Lưu ý: Hà Giang phụ cấp lưu động 40% LTT, Phụ cấp khu vực 40% Lương TT, Phụ cấp không ổn định SX 10%, Lương phụ và CP khoán trực tiếp = 16% Lương cấp bậc (Đơn giá Hà Giang 1728 năm 2006)

P/s: Gửi các bạn một file dự toán phần ngầm mình vừa chạy thử lại bằng phần mềm Dự toán GXD (Riêng phần thông số chi phí tiền lương có cải biên đi một chút) Tải file đính kèm tại đây

Dự toán GXD – sự tương đồng với hệ điều hành Android

Bài viết này viết về phần mềm dự toán GXD bằng cảm xúc yêu công nghệ!

(Nhiều người đọc tưởng mình PR cho Công ty GXD, mà tưởng thế cũng đúng, PR cũng được vì mỗi tháng Công ty GXD – nơi mình dạy học cũng mang lại cho mình khoản thu nhập kha khá, đủ để trả nợ vay mua nhà tại ngân hàng các bạn ạ :) )

Thấy anh Thế Anh với Thầy Quân tranh luận bằng những commen sâu sắc trên cái STT mình viết cảm nhận nhanh về GXD9. Mình muốn giải thích chút tại sao mình ví GXD như Android, mà không ví như iOS 7, Winphone 8 hay BlackBerry10…

Về lịch sử phát triển: Dự toán GXD cũng có những nét tương đồng như sự phát triển của Android (cái này các bạn dùng Android nhiều chắc rõ, từ Cupcake, Donut, Eclair,Foyor… cho đến bây giờ là Jelly Bean và sắp tới là Kikat…), GXD bắt đầu xuất hiện từ cuổi năm 2008, đầu năm 2009 cùng thời điểm phiên bản Android 1.5 lần đầu xuất hiện trên chiếc điện thoại G1 của Google

Từ đó đến nay Dự toán GXD cũng trải qua khá nhiều phiên bản nâng cấp, và mình có dịp xài tất cả các phiên bản vì phụ trách hướng dẫn thực hành cho lớp Đo bóc tiên lượng và Lập dự toán của Công ty GXD. Mỗi lần nâng cấp lại có thêm những tính năng mới mẻ, tạo cảm giác như khi xài các tính năng mới trên Android vậy (Mình bắt đầu xài Android lần đầu vào năm 2010 trên chiếc Galaxy S1)

Ảnh

Lịch sử các hệ điều hành Android

Về sự tùy biến: Mình ví Dự toán GXD như Android bởi điều này, GXD có file Dutoan.xlt giúp chúng ta có thể thoải mái tùy biến giao diện, khi cần ta có thể biến thành một phần mềm chuyên chạy thanh toán, khi lại chuyên dự thầu hoặc các công trình như dân dụng, giao thông, thủy lợi…Ở trên Android cũng tương tự, khi bạn Root được máy, bạn sẽ đi vào từng ngõ ngách của của hệ điều hành và tùy biến nó tùy theo sở thích của mình. Tất nhiên sự tùy biến thái quá đôi khi cũng làm cho người dùng gặp rắc rối, và tính bảo mật không cao nên Android không ổn định như trên iOS của Apple. Tương tự, cơ sở dữ liệu của PM dự toán GXD khá dễ sửa, dễ thêm bớt (file excel), điều này giúp người dùng có thể đi sâu vào sửa đổi, tùy biến cơ sở dữ liệu định mức, đơn giá theo ý của mình. Nhưng cũng giống như Android, dữ liệu dễ xâm nhập thì rất nhiều công ty khác có thể “chôm” dữ liệu của GXD. Ở Nước ngoài, việc bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ rất tốt, còn ở Việt Nam, điều này sẽ làm tác giả Dự toán GXD hơi buồn (?).

Về các tính năng: Nhiều người nói, dùng dự toán Acitt là đủ, nó rất cơ bản và bao năm nay nó vẫn vậy, giao diện thì xấu nhưng dùng lành. Mình lại liên tưởng việc này giống như bạn dùng chiếc Nokia Asha vậy, nó nghe gọi tốt, pin lâu, cũng vào được mạng nhưng rất chậm. Và khi cần những tính năng thông minh thì cái điện thoại này chịu. Chẳng hạn như muốn dẫn đường, la bàn để xác định hướng thì chắc phải xài Smartphone rồi.

Ảnh

Dự toán GXD 9 với nhiều tính năng mới

Về các dữ liệu đính kèm: Giống như trên Android có Google Market hay trên iOS có Appstores, Phần mềm dự toán GXD cũng có một kho tài liệu đi kèm vô cùng phong phú từ Diễn đàn giaxaydung.vn và từ chính Cộng đồng Giá xây dựng. Nếu các bạn sử dụng Dự toán GXD và biết kết hợp kho tri thức xây dựng phong phú này thì sẽ không sớm thì muộn, cũng trở thành bậc thầy trong lĩnh vực Dự toán.

Về dự toán GXD9: Dự toán GXD9 có rất nhiều tính năng mới lạ mà chưa có bất cứ trên phần mềm nào, sự tùy chọn các tính năng rất cao, các lệnh kết nối phong phú, phải nói nó như một chiếc Galaxy Note  chạy Android tương đối toàn diện. Tuy nhiên phải là chuyên gia dùng mới sướng, nó sẽ rất khó cho ai tiếp xúc lần đầu, vì vậy mình cũng mong trong các lớp Dự toán khởi điểm (cho những người mới lần đầu tiếp xúc dự toán), thầy Thế Anh sẽ giúp các học viên hiểu về bản chất dự toán, từ đó vận dụng vào Dự toán GXD như thế nào. Tóm lại, dù được tặng một chiếc Galaxy Note 3, nhưng chưa bao giờ dùng Android thì vẫn phải tìm hiểu từ đầu, từ những việc như Đăng nhập, Đồng bộ dữ liệu, Cài đặt ứng dụng…

Tóm lại, mình vẫn bảo lưu quan điểm:

“Dùng dự toán GXD9 như dùng một chiếc Smartphone cao cấp chạy Android vậy! Hệ điều hành rất thông minh, tùy biến và nhiều tính năng nhưng nếu bạn muốn trở thành một chuyên gia bạn phải tìm hiểu sâu về nó”

Lê Vinh 12.10.2013

Mẹo quản lý thư viện tài liệu tham khảo

Bài viết này Lê Vinh chia sẻ về cách lưu tài liệu tham khảo một cách khoa học, hiệu quả

Nhiều người có thói quen khi tìm kiếm một tài liệu tham khảo nào đó thường vào Google, Search tên sau đó Tải xuống hoặc Đọc ngay trên web kết quả, khi tải xuống thì cũng vứt tạm ở đâu đó như là thư mục Downloads, Desktop… Với cách làm như thế chúng ta vô tình lãng phí tài nguyên và khi cần tìm hiểu một nội dung khác chính trong văn bản đó, chúng ta lại phải mất công đi tìm kiếm và tải lại. Đôi khi đi công trường không có internet, 3G mà đang cần gấp thì thật bất tiện. Hôm nay LV chia sẻ một vài mẹo nhỏ để giúp chúng ta quản lý Dữ liệu tài liệu tham khảo một cách có hiệu quả:

1, Hãy tạo tủ sách tài liệu cho riêng mình:

Trong máy tính, các bạn hãy tạo một Folder với tên “Các tài liệu văn bản luật tham khảo” , sau đó tạo các Folder con với các nội dung cần lưu trữ. Ví dụ: Theo hệ thống văn bản luật Việt Nam, Lê Vinh chia theo thứ tự các cấp ban hành:

Folder1: 1.Luat-QuocHoi

Folder2: 2.Chinh phu

Folder3: 3.Bo Xay Dưng

….

A1

Tạo một tủ sách tài liệu ngay trong máy tính. Ảnh: Chụp màn hình

Trong các Folder đó tiếp tục chia nhỏ theo các lĩnh vực, ví dụ với các Nghị định của Chính phủ ta chia ra:

1.Quan ly chi phi

2. Quan ly chat luong

3. Quan ly dau thau lua chon nha thau

A2

Nên chia theo từng lĩnh vực trong ngành mà mình đang làm. Ảnh: Chụp màn hình

Lưu ý: Các Folder nên đặt số để giúp ta sắp xếp hiển thị theo thứ tự, tạo sự ngăn nắp trong quá trình sử dụng tài liệu, đồng thời tìm kiếm cũng dễ dàng.

2, Tạo thói quen: Tải tài liệu về hãy lưu đúng chỗ

Giống như mua một cuốn sách mới về, các bạn hãy để nó đúng ô trong tủ tài liệu. Khi cần chúng ta tìm kiếm rất dễ dàng.

Mẹo nhỏ:

a, Trên các trình duyệt nên cài đặt tùy chọn: Thay vì lưu vào Folder mặc định có tên Downloads, các bạn tích vào ô “Luôn hỏi tôi nơi lưu tập tin”

A3

Trong trình duyệt Chrome: Tích chọn hỏi nơi lưu tài liệu trong mục Tùy chọn

A3

Tương tự trong FireFox dành cho ai yêu trình duyệt cáo lửa

b, Nên tìm kiếm và tải tài liệu ở các trang chính chủ, ví dụ với Nghị định nên download ở trang điện tử Chinhphu.vn.

Chúng ta nên tìm kiếm và download các tài liệu tại các trang web chính chủ. Trường hợp không có trên trang chính chủ thì nên tìm download ở các trang chia sẻ miễn phí và tin tưởng.

3, Hãy đặt lại tên file theo cách dễ hiểu nhất:

Khi lưu tài liệu, bạn nên đặt lại tên file theo cách bạn dễ hiểu, dễ tìm nhất. Ví dụ, với Nghị định 66/2013 của Chính phủ, khi download về sẽ có tên là “66-nd”, khi lưu trữ vào tủ sách ta nên đặt lại là “Nghi dinh luong TT chung – 66-2013”

A5

Nên sửa lại tên file để dễ hiểu và dễ tìm nhất khi cần

4, Hãy lưu cả file PDF và File word (nếu có)

Bản PDF thường là bản chuẩn, tức không sửa được. Với bản file word, các bạn có thể tìm kiếm dễ dàng hơn với lệnh (ctrl+F), tuy nhiên đôi khi chúng ta vô tình sửa làm sai văn bản rồi lại save lại, hoặc cũng có người sửa văn bản theo mục đích riêng của mình rồi vô tình chia sẻ lại cho người khác, như thế sẽ rất nguy hiểm.

Vì vậy bạn nên lưu cả bản PDF và Word để đối chiếu khi cần.

5, Có thể lưu trữ bằng dữ liệu trực tuyến (Đám mây)

Hiện nay có nhiều nhà cung cấp dịch vụ dữ liệu trực tuyến, và thông thường chúng ta được Free khoảng 5Gb, đủ để lưu trữ các tài liệu tham khảo, 5Gb đủ ta tạo ra một tủ sách khổng lồ “trên mây”.

Nhiều người sử dụng nhà cung cấp tiêu biểu và uy tín như Dropbox, Skydrive, GoogleDrive…để lưu trữ, vì việc đồng bộ hóa với dữ liệu trên các máy tính khá dễ dàng. Các bạn cũng lưu ý về tính bảo mật của các tài liệu này, vì thế nếu nó quá quan trọng hoặc tế nhị thì cũng không nên đưa lên trực tuyến.

Với dữ liệu được đưa lên mây, khi không may ổ cứng bị hỏng, tài liệu của chúng ta đã cất công sưu tầm sẽ không bào giờ mất mát cả

A7

Dữ liệu đám mây ngày càng phổ biến

LV sử dụng Dropbox để lưu “Tủ tài liệu tham khảo”, vì nó có thể giúp mình đọc được tài liệu từ bất cứ đâu, và việc đồng bộ máy tính làm việc ở công ty cũng như máy tính ở nhà một cách dễ dàng. Các tài liệu tham khảo khi thì ta lưu vào máy ở cơ quan, lúc lưu máy ở nhà nên việc có một bộ dữ liệu trực tuyến là rất hữu ích.

Với Dữ liệu đám mây, khi ngồi họp ta cũng có thể mở Smartphone hoặc Máy tính bảng truy cập một cách dễ dàng, nhanh chóng.

dropbox-ilamont-flickr-520x245

Với đám mây và một chiếc Smartphone hoặc Tablet, ta có thể đọc tài liệu ở bất cứ đâu

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 6)

Tìm hiểu về việc tính chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4,          Phần 5

Phần tiếp của Chuỗi bài viết “Làm thế nào để giỏi dự toán” hôm nay, LV sẽ giúp các bạn định hình rõ về Chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng.

Vật liệu cùng với nhân công và Máy thi công là là thành phần chính cấu thành Chi phí xây dựng trong Dự toán. Từ trước đên nay, việc xác định giá vật liệu thường được lấy bằng các cách đơn giản như lấy theo Công bố giá Liên sở Tài chính – Xây dựng, lấy theo Báo giá của nhà cung cấp, của một số website chuyên về báo giá….Tuy nhiên khi mà công trình thi công ở một địa bàn khó khăn (vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng núi cao…) hoặc đó là vật tư mà bắt buộc Nhà thầu phải lấy tại nguồn cấp thì việc tính thêm chi phí vận chuyển vật liệu là hết sức cần thiết.

Hiện nay theo hướng dẫn của Thông tư 04/2010/TT-BXD, việc xác định chi phí vận chuyển vật liệu có thể thực hiện bằng hai cách:

-         Xác định bằng định mức vận chuyển

-         Xác định bằng bảng cước vận chuyển hàng hóa.

Có ý kiến cho rằng, hướng dẫn của Bộ xây dựng vẫn chưa mô tả hết các phương pháp vận chuyển (các phương tiện khác nhau) hay điều kiện vận chuyển (đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng không…). Tuy nhiên, chúng ta tạm bỏ qua các yếu tố đó, tập trung vào việc tính vận chuyển vật liệu theo hai cách trên thì cũng đã có nhiều điều đáng bàn.

Ngoài ra hiện nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn khái niệm “giá vật liệu đến chân công trình” và “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng”. Thực ra chúng khác nhau, ví dụ một công trình giao thông (đường, cầu…) kéo dài qua nhiều địa bàn thì không biết nơi nào là “chân công trình”. Do vậy dùng từ “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng” mới chính xác, ngoài ra nó còn ẩn ý một điều “giá vật liệu bao gồm cả chi phí tại hiện trường (vận chuyển nội bộ công trường, bốc xếp, hao hụt, bảo quản …)

Công thức tính giá vật liệu đến hiện trường được xác định bằng công thức sau (quy định tại Phụ lục số 6, Thông tư 04/2010/TT-BXD):

Gvl = Gcct + Cht   = Gg+ Cvc + Cht

Trong đó :

- Gcct: giá vật liệu đến công trình; Gcct = Gg+ Cvc

- Gg: giá vật liệu gốc;

- Cvc: chi  phí vận chuyển đến công trình (bao gồm cả chi phí trung chuyển, nếu có).

- Cht: chi phí tại hiện trường bao gồm: bốc xếp, vận chuyển trong nội bộ công trình, hao hụt bảo quản tại kho, bãi.

vanchuyenVL

Minh họa các thành phần chi phí trong giá vật liệu.

Một số lưu ý khi tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng các bạn nên chú ý:

1, Khi thực sự thấy cần thiết hãy tính toán các chi phí liên quan đến vận chuyển, chi phí hiện trường bởi việc này khá phức tạp và nhiều khi Chủ đầu tư không duyệt các khoản chi phí này.

2, Nhiều địa phương không ban hành bảng cước vận chuyển vật liệu, hàng hóa bằng ô tô nên việc tính toán gặp nhiều khó khăn. Nhiều Chủ đầu tư chấp nhận áp dụng bảng cước 89 từ năm 2000 tuy nhiên việc điều chỉnh giá cước về hiện tại cũng khá phức tạp.

3, Mặc dù là một thành phần chi phí trong Giá vật liệu, nhưng thực tế chi phí hiện trường ít được tính toán. Lý do bởi trong định mức thường đã có vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m. Các chi phí liên quan đến bảo quản, hao hụt dự trữ… nhà thầu phải chịu trách nhiệm

4, Khi áp dụng bảng cước, lưu ý nhiều chi phí được tính thêm:

+ Hàng bậc 2 được tính bằng 1,1 lần hàng bậc 1; bậc 3 tính thêm 1,3 lần và hàng bậc 4 tính thêm 1,4 lần hàng bậc 1.

+ Xe 3 cầu chạy xăng (đường miền núi khó khăn), xe dưới 4 tấn được cộng thêm 30% cước.

+ Xe có thiết bị tự đổ cộng thêm 15% cước, xe có thiết bị hút xả cộng thêm 20% cước;

+ Các quy định tăng, giảm cước khác theo quy định của các Địa phương.

LV sẽ có bài viết minh họa rõ hơn cách tính Giá vật liệu đến hiện trường bằng bảng cước hàng hóa trong thời gian gần nhất.

Phần tiếp theo: Cách tính chi phí nhân công trong dự toán

Câu hỏi: Những biểu cần in khi lập dự toán

Câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa gửi vào email của LV với nội dung về các phương pháp lập dự toán cũng như các biểu cần in ấn khi lập dự toán.

Nội dung của email như sau:

Trước tiên em xin cảm ơn những chia sẻ hữu ích của anh trên blog, em đang học dự toán và có một số thắc mắc mong Anh bớt chút thời gian giải thích giúp ạ

Thứ nhất: Hiện nay em biết có 2 phương pháp lập dự toán  theo (Đơn giá * Khối lượng)

1.      Lập dt theo đơn giá địa phương và bù trừ chênh lệch

-          Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh

-          Phương pháp bù trừ trục tiếp (bừ trừ bằng lương và giá nhiên liệu năng lượng tại thời điểm lập dự toán)

2.      Lập dt theo đơn giá công trình

3.      Khi chạy bảng dự toán dự thầu

Vậy cho em hỏi giá trị Gxd của 3 bảng trên có bằng nhau không ?

Thứ hai: Các bảng biểu (các sheet) cần in khi lập dự toán theo các pp trên ?

Thứ ba: Ý nghĩa, ưu nhược điểm của từng pp?

Cảm ơn anh nhiều !

 Trả lời:

Trước hết, xin cảm ơn câu hỏi khá hay của bạn, và thay vì trả lời riêng, LV sẽ post câu hỏi lên blog cá nhân để mọi người cùng tham khảo.

LV sẽ trả lời theo đúng thứ tự câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa:

Thứ nhất: Đúng là có 2 phương pháp lập dự toán như bạn nói, bản chất của 2 phương pháp là như nhau, đều phải xác định giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công cho thời điểm hiện tại, sau đó tính thêm các khoản chi phí khác (trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại) theo đúng hướng dẫn trong TT 04/2010-BXD.

Còn Dự toán dự thầu là một trong các Phân loại của Dự toán (chúng ta thường nghe đến Dự toán thiết kế; Dự toán gói thầu; Dự toán dự thầu hay Dự toán thi công).

Nếu các dữ liệu nhập vào để giúp tính toán là như nhau (Bảng giá vật liệu, Chế độ chính sách tiền lương, Giá nhiên liệu, năng lượng) thì kết quả đương nhiên của cả 2 cách tính toán theo Đơn giá địa phương hay Đơn giá công trình sẽ phải bằng nhau. Tương tự giá trị Gxd và Dự thầu là như nhau.

Thứ hai: Các bảng biểu cần in khi lập dự toán theo các PP trên, LV sẽ kê theo thứ tự để bạn tham khảo. Lưu ý:

+ LV chỉ kê cho Tổng hợp chi phí xây dựng để bạn tham khảo

+ Hai phần luôn phải có là Bìa dự toán và Các căn cứ lập dự toán LV sẽ không kê sau đây.

+ Nếu dự toán có nhiều hạng mục thì ta in thêm bảng Tổng hợp giá trị các hạng mục

Phương pháp 1: Lập dự toán theo PP đơn giá địa phương:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+ Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

2, Nếu dùng PP bù trừ trực tiếp (với nhân công và máy thi công), cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu, nhân công, máy thi công  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy điều chỉnh (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

Phương pháp 2: Lập dự toán theo PP đơn giá công trình:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng tổng hợp Dự toán đã cập nhật theo giá công trình (Sheet Gxd)

+ Bảng chạy Đơn giá chi tiết (trong Dự toán GXD là Sheet DGCT XD)

+ Bảng giá trị vật tư (dự toán GXD là Sheet GVT XD)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

DSC_0098

Có nhiều PP lập dự toán nhưng nếu hiểu rõ chúng ta sẽ thấy bản chất các phương pháp đều giống nhau. Ảnh: LV

Với dự toán dự thầu: Bạn phải kiểm tra mẫu yêu cầu của HSMT, thường sẽ phải in các biểu sau đây

Biểu bắt buộc: Bảng tổng hợp giá dự thầu (gồm các hạng mục)

Trong các hạng mục:

Biểu 1: Tổng chi tiết giá dự thầu (Tham khảo Sheet DTDT trong Dự toán GXD)

Biểu 2: Phân tích đơn giá dự thầu (Tham khảo Sheet DGCT trong Dự toán GXD)

Biểu 3: Bảng tính đơn giá vật liệu trong Dự toán dự thầu (Tham khảo Sheet VLHT hoặc GVT trong Dự toán GXD)

Với dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như trong dự toán, tuy nhiên ta không cần in ấn hết như trên do mẫu đã quy định, hơn nữa khi chấm thầu người ta sẽ kiểm tra file gửi kèm của Nhà thầu.

Thứ ba: Ưu nhược điểm của từng phương pháp

Các phương pháp có kết quả như nhau, với PP đơn giá địa phương ở miền Bắc hay áp dụng thì nó thành tiền lệ, cũng do các phần mềm dự toán truyền thống (Acitt, G8…) vẫn hay áp dụng cách này. Ưu điểm của các này là rất nhanh nếu đủ các dữ liệu như Đơn giá địa phương và các văn bản điều chỉnh hệ số dự toán. Tuy nhiên nếu không đủ các dữ liệu được địa phương công bố hoặc ban hành thì việc tính toán trở nên khó khăn.

Với PP lập đơn giá dự toán công trình, ta hình dung công trình ở đâu tính toán ở đó, và ta chỉ cần nắm được giá vật liệu, nhiên liệu năng lượng cũng như chế độ chính sách về tiền lương, phụ cấp ở khu vực đó thì sẽ giúp tính toán nhanh chóng. Ở Miền Nam các phần mềm hướng theo cách này, và nó cũng trở thành tiền lệ.

Với Dự toán dự thầu, chúng ta bắt buộc phải tuân theo hồ sơ Mời thầu hoặc Yêu cầu, do vậy không có sự lựa chọn mà chúng ta phải làm theo mẫu. Tuy nhiên cũng phải lưu ý, với Dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như đã nêu ở trên.

Vấn đề thanh toán các công việc liên quan đục lỗ chờ lắp đường ống

Một bạn có tên Hà có email eyenight….@yahoo.com ở Hà Nội, đang công tác ở vai Chủ đầu tư có gửi mail hỏi một số câu hỏi liên quan đến việc thanh toán chi phí cho công tác thi công phần đường ống cấp thoát nước của Nhà thầu. Lê Vinh trên quan điểm hiểu biết sơ bộ về lĩnh vực này, xin được đưa ra một số ý kiến cá nhân và phản hồi lại cho bạn đó tham khảo. Tiện post lên blog để mọi người có thể đọc, thảo luận thêm.

Hỏi:
1, Việc khoan lỗ để lắp các ống thoát nước chậu rửa, thoát xí, máy giặt… có được tính riêng cho nhà thầu không? (Việc này nhà thầu xây dựng phải đặt sẵn lỗ chờ hay là nhà thầu cấp thoát nước phải đục sau khi vào thi công?)

Trả lời:Nguyên tắc là Nhà thầu làm theo đúng hồ sơ thiết kế đã nêu trong hợp đồng (hồ sơ mời thầu). Trong hồ sơ thiết kế đầy đủ bao giờ cũng phải có các lỗ chờ để phục vụ thi công lắp đặt thiết bị vệ sinh, đường ống. Có thể lúc thi công phần thân thô chưa có Hồ sơ thiết kế phần điện nước thì Chủ đầu tư phải chấp nhận trả thêm phần chi phí này cho các công việc phát sinh liên quan đến khoan, đục lỗ.

Mặt khác có thể nhìn thấy rõ, trong Định mức các công tác lắp ống thoát nước không có công tác khoan bê tông.

Do vậy, nếu có các công tác đó ta phân ra 2 trường hợp:

+ Có trong hồ sơ thiết kế ban đầu, nhưng Nhà thầu thi công bê tông không trừ lỗ thì họ phải khoan đục vì họ làm chưa đúng hồ sơ thiết kế.

+ Không có trong hồ sơ thiết kế ban đầu mà bổ sung ở phần điện-nước sau khi đã thi công phần thô thì Chủ đầu tư phải mất thêm chi phí cho công tác khoan đục.

DSC_0154

Hệ thống đường ống thoát nước thải trong công trình. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
2, Việc thử áp lực và thử kín đường ống cấp thoát nước có được tính thêm cho nhà thầu không? Theo mình thì việc thử này là nằm trong BPTC của nhà thầu, nhà thầu phải có trách nhiệm thi công đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho CĐT nghiệm thu nên không được tính.

Trả lời:

Nhà thầu chỉ thi công đúng các công tác để hoàn chỉnh theo đúng hồ sơ thiết kế nêu trong hợp đồng. Việc thí nghiệm vật liệu trước khi thi công thuộc về trách nhiệm của Nhà thầu (để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán (HSCL)). Đối với các thí nghiệm hiệu chỉnh theo yêu cầu của Chủ đầu tư thì Chủ đầu tư phải mất thêm phí (Thuộc về Chi phí lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh trong Gtb).

Vậy với công tác thử kín đường ống cấp nước, phải xem lại:

+ Trong BPTC Nhà thầu có mô tả không, TCVN về công tác đó có yêu cầu không

+ Trong Đơn giá họ chào có việc đó không

Nếu có Nhà thầu phải chịu đơn giá đó

Trường hợp không có thì đương nhiên là yêu cầu riêng của Chủ đầu tư và Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí này.

Phản hồi: Ảnh Trần Ngọc Hải (SG) có phản hồi về vấn đề này như sau, LV post lên đây các bạn tham khảo:

Các nút bịt chỉ là biện pháp thi công của nhà thầu để khỏi tắc đường ống. Cái chủ đầu tư nghiệm thu là chất lượng, kỹ thuật chứ không nghiệm thu biện pháp của nhà thầu

Việc thử áp lực hay kín là trách nhiệm của nhà thầu để cdt nghiệm thu chất lượng. Ví dụ công tác bê tông ngoài nghiệm thu bê tông đổ tại chỗ đạt ra còn phải quan tâm đến thẩm mĩ, chất lượng như bê tông rỗ hay không, phù hay không. Chẳng Chủ đầu tư nào bỏ tiền đi bịt lỗ rỗng bê tông hay đi mài cạnh khi đã nghiệm thu công tác đổ bê tông

chungcuHNlevinhxd

Chung cư Linh Đàm – Hà Nội. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
3, Các nút bịt để phục vụ BPTC thử kín, thủ áp lực và bảo vệ không cho rác thải chui vào đường ống cấp thoát nước có được tính không?

4, Định mức lắp đặt ống nước đã bao gồm việc đục tường, sàn để đi ngầm ống chưa? (Theo mình thì chưa. nhưng từ xưa đến giờ chả thấy ai tính đến việc này cả?)

Trả lời:

Những vật liệu không có trong Định mức của các công tác lắp đặt đường ống và các phụ kiện đường ống thì phải tính riêng, trường hợp này chắc chắn Nhà thầu được tính riêng.

Lời khuyên: Với các công tác cụ thể, bạn cần mở Định mức 1776, 1777 ra xem công tác đó được mô tả gồm những việc gì, đã bao gồm hoặc chưa có những việc gì (đọc kỹ cả phần thuyết minh và các thành phần vật liệu, máy thi công)… Ví dụ như công tác lắp đặt đường ống nước thì chưa bao gồm việc đục tường, sàn để đi đường ống, nhưng công tác lắp đặt ruột gà, bảo ôn thì lại đã gồm việc đục, trát phẳng…

Chúc anh thành công trong công việc!

Thân chào!

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 5)

Phần 5:Lập dự toán theo PP đơn giá tại công trình: Hiểu sâu về bản chất của dự toán!

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4

Định nghĩa: Đơn giá công trình là Đơn giá mà người lập dự toán tự xây dựng từ Định mức và các đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại công trình đó ở thời điểm lập dự toán (thay vì dùng Đơn giá địa phương và bù giá).

Để hiểu hơn về PP này, bây giờ bạn hãy làm một ví dụ đơn giản: Bố mẹ bạn chuẩn bị làm nhà 3 tầng, và bảo bạn hãy tính thử 1 bức tường xây cao 3,5m, rộng 4m, có cửa sổ 1,5*1,5m, xây tường 220 (vữa XM mác 50) thì tính ra bao nhiêu tiền?

Trước hết ta tính khối lượng:

+ Xây cần tính ra m3, vì đơn vị tính công tác xây trong Đm là 1m3

+ KL xây: 3,5*4*0,22 – 1,5*1,5*0,22 = 2,585m3

Tiếp theo ta tìm cách tính 1m3 xây bao nhiêu tiền?

Nếu ở quê, ta hay đi hỏi bác thợ xây xem 1m3 xây bao nhiêu gạch, bao nhiêu xi, bao nhiêu cát, nước… rồi tính nhẩm sẽ ra cơ bản. Nhưng với dự toán, ta cần tính chính xác theo đúng các quy định. Vậy với 1m3 xây, trước hết ta đi tra Định mức 1776 ta được mã hiệu AE.22220 phù hợp với mã hiệu ta cần tra:

HD3

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, Mã AE.2xxxx

Tiếp tục tra cứu ĐM 1776 để xem 1m3 vữa xây xi măng cát mịn, Mác 50, định mức cấp phối vữa như thế nào:

HD4

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, phần cấp phối vữa xây

Nhìn vào định mức ta có thể thấy, để xây 1m3 gạch cần các hao phí như sau:

Vật liệu:

+ Gạch 550 viên; Xi măng: 230,02*0,29 = 66,7 kg; Cát xây: 1,12*0,29=0,3248 kg

+ Vật liệu khác: nước: 220*0,29=75,4 lít (quy định trong ĐM), vật liệu khác: 6% VL chính

Nhân công: Nhân công 3,5/7 là 1,97 công

Máy thi công: Máy trộn vữa 80L: 0,036 ca; Vận thăng: 0,04 ca; Máy khác: 0,5%

Bằng cách lắp giá các vật tư, vật liệu mà ta khảo sát được trên thị trường ta sẽ lập được ngay bảng tính 1m3 khối xây. Lưu ý, phải tính các chi phí đuôi theo đúng quy định của Thông tư 04/2010:

HD5

Bảng tính 1m3 công tác xây tường 220, vữa XM mác 50

Vậy không dùng phần mềm, không dùng đơn giá địa phương, chúng ta vẫn tính được kết quả 1m3 khối xây với đầy đủ các chi phí vào khoảng 1,7 -1,8 triệu đồng

Đơn giá cho 1 bức tường xây mô tả ở trên sẽ là: 1,778 triệu đ/m3 * 2,585 m3 = 4,596 triệu đồng.

Lưu ý: Nếu dùng PM dự toán GXD hoặc Dự thầu GXD, các bạn sẽ rất nhanh chóng chỉ mất 1-2 phút tính toán với bài tập trên

Bản chất của Lập dự toán theo PP đơn giá công trình là như vậy. Chúng ta có định mức, khảo đơn giá thị trường hoặc với đơn giá nhân công, giá ca máy thì tính toán theo đúng hướng dẫn của Nhà nước sẽ dễ dàng tính được đơn giá của một công tác mà không cần dùng đến đơn giá địa phương.

Lưu ý: Địa phương muốn lập được đơn giá họ cũng làm theo cách như LV vừa hướng dẫn.

Để rõ hơn về PP lập đơn giá công trình, mời các bạn tiếp tục xem lại tài liệu “Các bước thực hành trên phần mềm dự toán GXD” – Phần 2, PP đơn giá công trình.

Xem tài liệu tại đây

DSC_0104

Mỗi công trình có một đặc điểm riêng về thị trường, việc tính toán đơn giá công trình là hợp lý. Ảnh: Chung cư huyndai hillstate (Chụp: LV)

Phần tiếp: Cách tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 4)

Lập dự toán bằng Phương pháp sử dụng đơn giá địa phương

(Hiểu bản chất của lập dự toán bằng PP đơn giá địa phương)

Trước hết các bạn phải hiểu vì sao gọi là Đơn giá địa phương: Đơn giá do các Tỉnh, Thành phố ban hành ra ở một thời điểm nào đó kèm theo Quyết định công bố được gọi là đơn giá địa phương. Ví dụ:

+ Đơn giá số 56 Hà Nội năm 2008 (Đã được thay thế)

+ Đơn giá xây dựng 5481 năm 2011 của Hà Nội

Đơn giá được công bố thường được xây dựng trên cơ sở định mức đã được Bộ Xây dựng ban hành (ngoại trừ một số Bộ ngành khác công bố định mức và công bố luôn đơn giá). Do vậy, thường các địa phương có kết cấu đơn giá giống nhau, nhưng số liệu đơn giá lại khác nhau do đơn giá Vật liệu, Nhân công, Máy thi công ở mỗi nơi một khác nhau.

Vậy thì muốn tính dự toán cho 1 công tác nào đó, cách làm của chúng ta vẫn là:

Đơn giá công tác = Khối lượng * Đơn giá

abc

Phương pháp lập dự toán phổ biến nhất: Khối lượng nhân với Đơn giá

Trong đó khối lượng xác định từ bản vẽ và Đơn giá lấy theo đơn giá địa phương

Tuy nhiên Đơn giá thường được ban hành từ một thời điểm nào đó (ví dụ Đơn giá HN 2011 ban hành tháng 11/2011), và thường sẽ là đơn giá không đầy đủ (chưa tính đuôi chi phí gồm trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại). Như vậy khi sử dụng đơn giá địa phương ta phải làm 2 việc sau:

+ Điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại

+ Tính các chi phí đuôi để có một đơn giá đầy đủ

Để điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại người ta thường phải bù các yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công bằng cách phương pháp như là bù trừ trực tiếp (tính chênh lệch) hoặc nhân hệ số điều chỉnh (Kđ/c)

A-1

Trích đơn giá xây dựng 5481 Hà Nội ban hành năm 2011

 Ví dụ: Tính toán đơn giá của 10m3 bê tông cột mác 250, ta làm như sau:

+ Mở đơn giá HN 2011 ra, trang 160 có đơn giá bê tông cột (như minh họa hình trên)

Cách 1: Lấy giá trị 1.801.480 nhân với đơn giá 10 sẽ có ngay giá trị: 18.014.800 đồng

Tuy nhiên cách này chỉ tính đơn đơn giá tổng hợp cho bê tông cột tại thời điểm ban hành đơn giá (tháng 11/2011), muốn tính thời điểm này là khó do chúng ta không rõ trong 1.801.480 kia gồm những đơn giá cụ thể gì?

Cách 2: Tính toán cho từng giá trị theo giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công rồi tính thêm các phần chi phí đuôi:

Đơn giá 10m3 bê tông = 10*[(VL+NC+MTC)+TT+C+TL+VAT+Gxdnt]

= 10*[(758.902+974.354+67.224)*1,025*1,065*1,055*1,1*1,01]

Giải thích cách tính: 1,025 ; 1,065; 1,055; 1,1; 1,01 lần lượt là phần tính thêm của 2,5% trực tiếp phí khác; 6,5% chi phí chung; 5,5% thu nhập chịu thuế tính trước; 10% thuế GTGT và 1% chi phí xây dựng nhà tạm của công trình dân dụng.

Với cách tính chi tiết này, chúng ta sẽ có các công cụ PM dự toán giúp phân tích chi tiết xem trong các giá trị VL = 758.902, NC=974.354, MTC=67.224 mà Hà Nội ban hành ở trên gồm những vật tư cụ thể gì, khối lượng định mức là bao nhiêu từ đó tính toán điều chỉnh dự toán về thời điểm hiện tại.

Hầu hết mọi phần mềm dự toán đều dùng cách 2, nguyên lý là Điều chỉnh giá trị Vật liệu, Nhân công, Máy thi công về thời điểm hiện tại và Tính thêm các chi phí đuôi. Và để lập dự toán nhanh, chúng ta cần sử dụng các phần mềm dự toán, bởi các dữ liệu đã được mã hóa, giúp việc tra cứu và thao tác trở nên nhanh chóng, thuận tiện.

Để rõ hơn, các bạn đọc tài liệu “Các bước thực hành dự toán trên phần mềm GXD” – Phần hướng dẫn theo đơn giá địa phương.

Xem tài liệu tại đây

Phần tiếp: Cách lập dự toán sử dụng định mức công bố và đơn giá vật tư tự xác định (PP đơn giá công trình)

Lập luận chứng minh: Tra mã hiệu dự toán theo chiều cao công trình là đúng!

Trong bài viết “Lập dự toán theo chiều cao công trình”, hẳn nhiều bạn vẫn chưa thấy thuyết phục khi mà công việc ở tầng thấp lại có thể đồng giá với công việc trên tầng cao. Cũng có bạn thắc mắc tại một công văn của Vụ kinh tế xây dựng năm 2010, trả lời doanh nghiệp rằng việc lập dự toán phải chia theo chiều cao công việc. Nay Lê Vĩnh xin được post lại lập luận chứng minh đã chia sẻ trên diễn đàn Giá xây dựng cách đây 2 năm về vấn đề này.

Giả sử ta có công tác thép chủ cột D<=18 cho tòa nhà 18 tầng cao 60m, Có 2 phương án:
1, Chia các công tác theo độ cao, Tra thành 5 mã hiệu: AF.61421 (<=4m), AF.61422(<=16m), AF.61423(<=50m), AF.61424(>50m)
2, Không phân chia độ cao, tất cả các mã tra 1 mã hiệu duy nhất: AF.61424(>50m)
Trước khi chứng minh phương án 2 đúng, ta hãy nhớ: Định mức của chúng ta là Định mức Kinh tế – Kỹ Thuật

Xét về kinh tế, có vẻ như việc chia các mã hiệu theo chiều cao công việc là phù hợp, vì càng lên cao thi công càng khó và giá càng phải đắt hơn. Tuy nhiên xét về kỹ thuật thi công thì không đúng như vậy
Nếu ta tra theo phương án 1, Ta sẽ có biện pháp thi công như sau:
- Tầng 1 (dưới 4m) ta không cần máy móc để vận chuyển lên cao, công nhân tự vận chuyển và dựng thép lên. Tương tự với các công tác khác, chỉ cần giàn giáo làm thiết bị thi công là đủ.
- Từ tầng 2 đến tầng 4 (từ 4 đến 16m): Ta phải lắp thêm một vận thăng loại nhỏ, theo ĐM là Vận thăng 0,8T để vận chuyển thép lên phục vụ thi công
- Từ tầng 5 đến tầng 16 (Từ 16 đến 50m): Ta gỡ bỏ vận thăng 0,8T, làm móng và lắp vận thăng loại to hơn, chính là vận thăng lồng loại 3T. Tiếp tục làm móng và lắp cần trục tháp loại 25T để phục vụ việc vận chuyển người và vật liệu lên cao.
- Từ tầng 16 trở lên (Trên 50m): Vì thi công cao hơn, khó hơn, ta tháo dỡ cần trục tháp 25T đã lắp trước đó để lắp cần trục tháp to hơn có công suất 40T, đương nhiên phải làm lại móng mới vì cần trục tháp này yêu cầu móng to và vững hơn

 Ảnh

Hình ảnh minh họa việc thi công theo chiều cao nếu chia theo độ cao trong Định mức

Nhận xét: Nếu áp dụng theo biện pháp thi công như đã nêu trên, ta sẽ đưa tất cả các máy móc thiết bí vào thì công công trình (dưới thấp thì dùng máy nhỏ, lên cao huy động máy to). Trên thực tế, nếu thi công nhà cao tầng, ngay từ khi thi công tầng 1 tầng 2 nhà thầu đã phải chủ động lắp ngay cần trục tháp loại lớn, tức là dù chưa dùng nhiều đến cần trục tháp hay vận thăng lồng nhưng đơn giá của các máy móc thiết bị này đã được tính ngay vào công trình. Suy ra ta hiểu rằng, Nhà cao tầng thì mọi đơn giá từ tầng thấp lên tầng cao phải có đơn giá cao hơn so với thi công nhà thấp tầng (vì công nghệ biện pháp thi công tốn kém hơn).

Lập luận theo Định mức: Các bạn thử dùng PM Dự toán, tra 2 phương án trên, chỉ cho công tác thép nói trên thôi nhé, phân tích và tổng hợp vật tư sẽ thấy:
- Tầng 1 (dưới 4m) : Chẳng có máy móc gì cả
- Từ tầng 2 đến tầng 4 (từ 4 đến 16m): Dùng vận thăng 0,8T
- Từ tầng 5 đến tầng 16 (Từ 16 đến 50m): Vận thăng 3T, cần trục 25T
- Từ tầng 16 trở lên (Trên 50m): Vận thăng 3T, cần trục 40T
Như vậy bản chất không đúng với thực tế, vì khi đó trong dự toán của các bạn sẽ có đủ tất cả các máy móc từ vận thăng 0,8T, vận thăng 3T, cần trục 25T, cần trục 40T chỉ để thi công thép cột D<18. Trong thực tế, thi công ở độ cao nào, với nhà cao trên 50m, chúng ta chỉ dùng vận thăng 0,3T và cần trục tháp 40T.

Kết luận: Việc chia mã hiệu theo chiều cao công việc trong khi lập dự toán là hoàn toàn không phù hợp với biện pháp thi công cũng như yếu tố kinh tế.

Thắc mắc dự toán: Chiều cao công trình trong lập dự toán

Câu hỏi 1: Chiều cao trong định mức là chiều cao công việc hay chiều cao công trình. Ví dụ tòa nhà cao 60m tôi có phải chia các chiều cao <=4m, 4 đến 16m, 16 đến 50 và lớn hơn 50m để bóc hay không?

Trả lời:

Trước đây, các bạn đọc lại các dự toán cũ (khoảng giữa năm 2009) trở về trước sẽ thấy đa phần các dự toán vẫn chia mã hiệu theo chiều cao công việc. Tức các đầu việc phân theo chiều cao <=4m, từ 4 đến 16m (<=16m), từ 16 đến 50m (tra theo <=50) và trên 50m.

Tuy nhiên cách chia này là không đúng với bản chất của Định mức, tại một số công văn hướng dẫn của Viện kinh tế – Bộ xây dựng đã nói rõ “Chiều cao trong định mức là chiều cao công trình, tính từ cos +0,00 đến chiều cao <=4m hoặc <=16m hoặc <=50m hoặc >50m”. Khi lập dự toán căn cứ vào chiều cao công trình để tra các mã hiệu cho phù hợp, không phân tách thành các mức theo chiều cao công việc.

Ví dụ: Ai đó phân tách tòa nhà cao 60m thành 4 loại mã hiệu tương ứng với các chiều cao <=4m, <=16m, <=50m và =>50m là sai.

Văn bản tham khảo: 236/VKT5 ngày 23/6/2007 của Viện kinh tế BXD

Hiện nay, nếu bạn nào còn thắc mắc về vấn đề này có thể tham khảo phần thuyết minh hướng dẫn tại Định mức 1091 bổ sung của Đm 1776, trong đó nói rõ “Chiều cao trong định mức là chiều cao công trình”.

Ảnh

Tra mã hiệu dự toán phải theo chiều cao công việc. Ảnh: komasuvn

 Câu hỏi 2:  Chiều cao công trình để căn cứ lập dự toán là chiều cao nào? Quy định cách tính chiều cao công trình ở văn bản nào? Công trình cao tầng có thêm trạm thu phát sóng ở trên vậy có được tính đến đỉnh cột đó không?

Trả lời: Chiều cao công trình được định nghĩa tại Quy chuẩn: QCVN 03:2012 của Bộ xây dựng kèm theo thông tư số 12 /2012/TT-BXD ngày 28/12/2012 cụ thể như sau:

Chiều cao tính từ cao độ mặt đất đặt công trình theo qui hoạch được duyệt tới điểm cao nhất của tòa nhà, kể cả mái tum hoặc mái dốc. Đối với công trình có các cao độ mặt đất khác nhau thì  chiều cao tính từ cao độ mặt đất thấp nhất theo quy hoạch được duyệt.

Chú thích: Các thiết bị kỹ thuật trên mái: cột ăng ten, cột thu sét, thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, bể nước kim loại … không tính vào chiều cao nhà.”

Như vậy để lập dự toán, các bạn có thể căn cứ vào điểm cao nhất của kết cấu theo định nghĩa Quy chuẩn trên. Các chiều cao của các thiết bị kỹ thuật như cột ăng ten hay cột thu sóng không được tính là chiều cao công trình.

Câu hỏi 3: Lập dự toán tầng hầm thì tra theo chiều cao nào?

Trả lời: Hiện tại Định mức BXD chỉ quy định về chiều cao tính từ cos +0,00, như vậy với phần chiều sâu (cos -0,00 trở xuống) không có quy định. Việc này Chủ đầu tư sẽ chủ động lựa chọn chiều cao phù hợp để áp dụng vào mã đơn giá, thông thường Chủ đầu tư vẫn chọn cách tra theo chiều cao công việc.