Mối nối cọc bê tông cốt thép: Coi chừng xuất toán!

Hôm trước có bạn gửi email hỏi về câu chuyện định mức mối nối cọc, đúng câu chuyện cách đây 5 năm mình đã gặp, nhắc lại để mọi người cùng rút kinh nghiệm, đơn giản nhưng đôi khi không để ý là nguy hiểm lắm.

Hãy ví dụ đơn giản với công tác ép cọc BTCT cọc 35x35cm, theo định mức nối cọc loại này, thép dùng nối là thép góc L100x100, định mức không nói rõ là thép dày bao nhiêu vào chiều cao thanh thép nối là bao nhiêu, tuy nhiên có trọng lượng cho 1 mối nối là 22,83 kg

Trên thực tế, Tư vấn thiết kế sẽ đưa ra phương pháp nối cọc tiết kiệm và dễ nối nhất, thường thì dùng thép 6mm (6 ly), thép bản. Ví dụ với cọc 35x35cm ở một công trình Levinhxd đã tham gia thì sẽ là loại thép bản kích thước 140x270x6mm (4 tấm)

Do đó định mức cần sẽ là: 4*0,14*0,27*0,006*7850 = 7,1215 kg/ mối nối

(Định mức thường cho thêm hao hụt 3% nên có thể nhân thêm 1,003)

DMnoicoc

Định mức mối nối cọc theo 1776 và theo thiết kế

Cách xử lý thật đơn giản: Chúng ta chỉ cần thay vật liệu thép bản vào cột định mức trong Đơn giá chi tiết, dù chưa chính xác lắm về Đm que hàn và nhân công nhưng thôi kết quả này dễ chấp nhận hơn là sai số giữa 22,83kg và 7,12 kg (sai số 220%).

Và đương nhiên kết quả sẽ cho ra khác nhau:

DT1

DT2

Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án hãy để ý những chi tiết này bởi Nhà thầu hay Nhà tư vấn dù có biết thì họ vẫn lờ đi để hưởng phần chênh lệch thép kia.

Ví dụ cách tính dự phòng trong dự toán (theo Năm)

Cách tính Dự phòng cho công trình lớn, có thời gian thi công dài

Bài toán: Tính toán cho công trình nhà cao tầng có tổng dự toán khoảng 202,7 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 năm

Trong đó:

-         Chi phí xây dựng: 160 tỷ đồng

-         Chi phí thiết bị: 20 tỷ đồng

-         Chi phí quản lý dự án: 2,7 tỷ đồng

-         Chi phí tư vấn: 10 tỷ đồng

-         Chi phí khác: 10 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 3 tỷ đồng

Tổng dự phòng trước trượt giá là VT = 202,7 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 10,135 tỷ đồng

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2 – T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 năm);

- t: số thứ tự năm phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

- Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t;

Ở đây giả sử kế hoạch vốn năm thứ nhất là 40% (V1= 81,08 tỷ đồng); năm thứ 2 là 60% (V2=121,62 tỷ đồng). Lưu ý nếu có bảng tính toán các chi phí cụ thể thì các số liệu V1, V2 phải phù hợp với bảng kế hoạch nguồn vốn đã viết trong bảng tính toán dự án.

- LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t.

Untitled3
– IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 năm gần nhất so với thời điểm tính toán

Untitled4
Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, vậy để tính toán bạn có thể chọn các thời điểm Quý, Năm gần nhất để tính toán. Ở đây Lê Vinh lựa chọn tính toán cho 3 năm gần nhất, và lấy các thông số chỉ số giá xây dựng của các năm để nhập vào, riêng năm 2013 do chưa có chỉ số giá xây dựng của cả năm nên chỉ lấy Quý III/2013.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta dễ dàng nhận ra chỉ số giá giữa năm 2011 và năm 2010 tăng đến 30,85%, trong khi năm 2012 so với 2011 và 2013 so với 2012 đều có chỉ số giảm (lần lượt khoảng -0,6% và -1,6%). Tổng lại,  mức trung bình 3 năm vẫn có mức tăng khoảng 9,6%/năm. Theo hướng dẫn Thông tư 04/2010, những năm có đột biến giá thì phải bỏ qua, cụ thể ở đây năm 2011 so với năm 2010 rõ ràng có sự đột biến quá lớn, phản ánh đúng thị trường bất động sản và xây dựng thời kỳ đó, một thời kỳ tăng nóng. Nếu tính toán chuẩn xác thì chúng ta nên bỏ qua so sánh 2 năm này, và khi đó cần lùi các chỉ số tính toán về các thời kỳ trước. Tuy nhiên chúng ta sẽ phải lùi rất xa về các năm 2007, 2006 thì mới chuẩn xác được, bởi giai đoạn 2008-2011 là một giai đoạn lạm phát rất mạnh. Bởi lý do đó, Lê Vinh quyết định vẫn để nguyên tính toán năm 2011 so với năm 2010, và kết quả tính toán sẽ bù lại cho giai đoạn giảm phát về sau (2012, 2013), đồng thời ta có thể cân đối kết quả tính cuối cùng bằng cách điều chỉnh chỉ số biến động dự báo

ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là -2%/năm. Thực ra chẳng có căn cứ nào cụ thể để bảo vệ con số này cả, tuy nhiên để dự báo chỉ số giá xây dựng 3 năm vừa rồi thì thấy Năm 2013 này có mức trượt giá xây dựng so với Năm 2011 âm là hợp lý, cụ thể giá vật liệu, nhân công và máy thi công đều có xu hướng giảm. Và dự báo 2 năm tới 2014, 2014 chính phủ vẫn kiềm chế lạm phát, thị trường bất động sản chưa thể khởi sắc đột biến được, do vậy việc cân đối kết quả tính toán làm sao mức dự phòng phí cuối cùng ở mức khoảng 5-6% là hợp lý (thay vì gần 10% như Ixdbq đã tính ra).

 Untitled5

GDP = GDP1 + GDP2 = 35.209.449.921 đồng  (Tương đương khoảng 17%)

Tải file đính kèm: 

Hướng dẫn cụ thể

File ví dụ đính kèm

Kinh nghiệm rút ra khi tính Chi phí dự phòng trượt giá:

+ Khi tính toán, rõ ràng Gdp2 (dự phòng trượt giá) phụ thuộc rất nhiều ở chỉ số giá xây dựng 3 năm (3 quý) gần nhất. Hay nói cách khác, dự phòng trượt giá phụ thuộc vào mức biến động thị trường ở thời điểm gần đây, do vậy cũng cần có thêm sự tư duy định hướng mang tính dự báo cho các năm tiếp theo. Sự dự báo này cần sự cập nhật thêm các tin tức điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ, của ngành Xây dựng.

+ Các chỉ số giá xây dựng tìm kiếm ở trên mạng internet được nhiều trang chia sẻ, tuy nhiên người lập dự toán cũng có thể bị nhầm lẫn  các nội dung, ví dụ như công trình gì, địa bàn ở đâu, quý hay năm, công trình cao bao nhiêu tầng. Do vậy cần có sự xem xét, chọn lọc kỹ lưỡng trước khi áp dụng.

+ Lưu ý kể từ năm 2012 đến nay, hầu hết các tỉnh đều đã ban hành chỉ số giá xây dựng (thay cho trước đây Bộ xây dựng công bố). Do vậy việc cập nhật, tìm kiếm các văn bản công bố liên quan đến địa phương nơi mình đang lập dự toán cũng là một vấn đề cần lưu tâm.

+ Mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.  thực ra là một chỉ số rất khó xác định, phụ thuộc vào cảm tính chủ quan của người lập dự toán. Hầu hết các nhà tư vấn khi tính toán đều để bằng 0, tuy nhiên theo Lê Vinh, có thể dùng chỉ số này để cân bằng kết quả tính toán cuối cùng.

+ Thực ra chúng ta hoàn toàn có thể “bốc thuốc” kết quả tính Gdp2, bởi yếu tô này hoàn toàn mang tính dự đoán theo thị trường. Do vậy, qua việc xem xét chỉ số giá xây dựng, thậm chí là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được cập nhật liên tục trên các phương tiện đài báo thì việc dự báo Gdp2 cũng không quá khó. Ví dụ, 2 năm vừa rồi, mức trượt giá tiêu dùng CPI ở mức khoảng 6,5%/năm, do vậy dự báo trượt giá cho ngành xây dựng trong những năm tới có thể ở mức 6-6,5% /nămlà khá an toàn.

+ Lê Vinh cũng thống kê ra đây chỉ số giá CPI của 10 năm qua để các bạn tiện theo dõi: Năm 2004 tăng: 9,5%; năm 2005: 8,4%; năm 2006: 6,6%; năm 2007: 12,63%; năm 2008: 19,89%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%; năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%. Trung bình 10 năm qua: 10,67%

 Đọc thêm: Cách tính dự phòng trượt giá trong dự toán theo quý

 

Ví dụ tính dự phòng phí trong dự toán (Theo Quý)

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

Cách tính Dự phòng cho công trình nhỏ, thời gian thực hiện ngắn

Bài toán: Tính toán cho công trình gồm 10 căn hộ liền kề có tổng dự toán khoảng 29,8 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 quý.

Trong đó:

-         Chi phí xây dựng: 26 tỷ đồng

-         Chi phí thiết bị: 3 tỷ đồng

-         Chi phí quản lý dự án: 0,32 tỷ đồng

-         Chi phí tư vấn: 0,4 tỷ đồng

-         Chi phí khác: 0,08 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 0,016 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

 Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 1,49 tỷ

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2

- T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 quý);

- t: số thứ tự quý phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

- Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t;

- LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t.

Cần lưu ý lãi vay này chỉ phải loại bỏ khi nó được tính trong Chi phí khác (Gk), còn trường hợp bạn tính riêng (như một số người lập dự toán vẫn tính) thì không cần phải trừ yếu tố lãi vay trong bảng tính toán dưới đây.

Untitled3

- IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 quý gần nhất so với thời điểm tính toán;

Untitled4

Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, tức nếu tính toán chuẩn phải tính cho 3 quý gần nhất là Quý III/2013, Quý IV/2013 và Quý I/2014. Tuy nhiên do Thành phố Hà Nội chỉ mới công bố Chỉ số giá xây dựng đến hết Quý III/2013, nên chúng ta chỉ có số liệu tính toán cho các quý I, II, III/2013 mà thôi.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta nhận thấy việc tính toán ra chỉ số trượt giá bình quân hàng quý là rất thấp, kết quả ở đây là chỉ số âm (-), phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế Vĩ mô trong thời gian hơn 1 năm trở lại đây, sản xuất chậm, hàng tồn kho tăng cao, cộng với việc thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát mạnh mẽ của Chính phủ, làm chi chỉ số giá có xu hướng giảm, thậm chí có tháng còn có chỉ số âm (giảm).

 ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân quý đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là +0,5%/quý. Thực ra việc chọn con số 0,5% nếu giải thích cặn kẽ thì chẳng có căn cứ nào cả, nhưng cảm tính của Lê Vinh, ở kết quả tính Ixdbq ở trên đã bị âm, như vậy việc tính dự phòng trượt giá của chúng ta nếu để nguyên sẽ có kết quả âm, điều này làm cho việc tính chi phí dự phòng trở nên vô nghĩa. Hơn nữa, thị trường ở Việt Nam biến đổi rất khó lường bởi các chính sách vĩ mô, do vậy cần dự báo một mức tăng +0,5%/Quý hoặc hơn để đề phòng vẫn tốt hơn.

Có thể dễ dàng đưa ra một ví dụ dẫn chứng ở thời điểm này, từ 1/4, Bộ Giao thông vận tải áp dụng việc cân tải trọng xe ở 63/63 tỉnh thành và việc áp dụng khá nghiêm ngặt. Do vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến giá cước vận tải, trước đây vận chuyển hết 1 đồng thì nay lên 1,6 thậm chí 2 đồng, và ngành vật liệu xây dựng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Tuy nhiên trong bảng tính toán chỉ số Ixdbq của chúng ta ở trên, chưa có những câu chuyện biến động giá do vĩ mô như thế này. Như vậy chúng ta có thể thấy, chỉ số   là một công cụ giúp ta điều tiết kết quả tính toán Gdp2 rất hiệu quả.

Với những công thức, số liệu và kết quả tính toán như trên, ta tính được:

Untitled6

GDP = GDP1 + GDP2 = 1.621.836.527 đồng (Tương đương khoảng 5,4%)

Tải file đính kèm:

Hướng dẫn kèm theo

File ví dụ kèm theo

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

 

Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu?

Một bạn có email dungnguyen2411…@gmail.com có câu hỏi gửi Lê Vinh về nội dung liên quan giữa giá dự thầu và hồ sơ mời thầu

Nội dung câu Câu hỏi như sau: “Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu trong hồ sơ dự thầu?”

Lê Vinh xin Trả lời bạn như sau:

(Lưu ý: Câu trả lời sau áp dụng cho gói thầu xây lắp)

Theo Quy định của Bộ kế hoạch đầu tư, hồ sơ mời thầu gồm 3 phần:

-         Phần 1 gồm các chỉ dẫn đối với Nhà thầu

-         Phần 2 gồm các yêu cầu về xây lắp (kỹ thuật)

-         Phần 3 gồm các yêu cầu trong hợp đồng

1, Phần chỉ dẫn với Nhà thầu đưa ra các yêu cầu về năng lực hồ sơ mời thầu và các hướng dẫn về việc chuẩn bị hồ sơ, niêm phong, nộp hồ sơ. Trong phần ngày bên mời thầu cũng hướng dẫn các mẫu trình bày trong hồ sơ dự thầu từ đơn dự thầu, ủy quyền, thư bảo đảm, các bảng kê khai, biểu trình bày giá dự thầu…

Như vậy với phần chỉ dẫn với Nhà thầu chỉ có các biểu mẫu là liên quan đến việc lập giá dự thầu, chúng ta cần xem xét kỹ để có sự trình bày đúng form mẫu tránh bị trừ điểm khi bên mời thầu đánh giá hồ sơ.

 

2, Phần các yêu cầu về xây lắp là các quy định việc thực hiện thi công xây lắp phải theo bản vẽ thiết kế đã được phê duyệt, kèm theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng để quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây dựng. Do vậy phần này là hết sức quan trọng, cụ thể:

+ Bản vẽ: Giúp chúng ta xác định rõ các đầu việc, khối lượng, từ đó xác định được khối lượng thừa thiếu so với tiên lượng mời thầu để chào bổ sung.

+ Tiên lượng: Giúp ta nhanh chóng xác định đơn giá dự thầu, tổng hợp giá chào thầu. Tiên lượng cũng là cơ sở xem xét các khối lượng thừa thiếu để chào giá bổ sung giúp sau này trúng thầu có cơ sở thương thảo hợp đồng.

+ Các yêu cầu về mặt kỹ thuật: Giúp đưa ra giải pháp thi công hợp lý, từ đó có giá chào thầu hợp lý, đảm bảo chất lượng tiến độ nhưng giá vẫn cạnh tranh. Ví dụ với đào đất hố móng ta có thể có giải pháp đào kết hợp máy, thủ công (tỷ lệ% công việc), đồng thời có các biện pháp đảm bảo thành hố đào, bơm nước và giữ ổn định cho các công trình lân cận.

+ Bên cạnh đó cần xem xét kỹ các yêu cầu về chủng loại vật liệu đưa vào giá dự thầu, ví dụ nếu yêu cầu của Hồ sơ mời thầu là sử dụng các loại thép liên doanh nhưng chúng ta chào giá dự thầu là thép Thái Nguyên thì sẽ không đạt dù giá là thấp hơn.

3, Phần yêu cầu về hợp đồng: Trong phần này ta chú ý 3 yếu tố:

+ Hình thức đơn giá hợp đồng: Hình thức đơn giá liên quan mật thiết đến giá chào thầu, nếu hợp đồng là đơn giá trọn gói hay đơn giá cố định thì giá chào thầu cần dự báo được các yếu tố biến động trong tương lai, tức phải có sự dự phòng trong đó. Nếu hợp đồng đơn giá điều chỉnh thì đương nhiên ta cần cân đối chào giá ở mức thấp, mà quan tâm chủ yếu vào yếu tố kỹ thuật để cạnh tranh với các đối thủ (thường trong đấu thầu ít khi Chủ đầu tư áp dụng đơn giá điều chỉnh). Đặc biệt lưu ý thêm nếu hợp đồng đơn giá trọn gói thì khối lượng phải xác định chuẩn xác ngay từ lúc bóc hồ sơ bản vẽ phục vụ lập giá dự thầu, tránh các khối lượng thiếu gây lỗ trong quá  trình thực hiện hợp đồng.

+ Tiến độ: Tiến độ tối đa được quy định trong hợp đồng và Bảng dữ liệu đấu thầu (Phần 1), túm lại giá hợp đồng cần phải cân đối phù hợp với tiến độ thực hiện. Ví dụ: Nếu thi công 40 căn biệt thự trong vòng 6 tháng thì bạn có thể luân chuyển cốp pha, nhưng nếu phải thi công trong vòng 3 tháng thì việc luân chuyển cốp pha là rất khó. Do vậy việc chào giá ván khuôn trong trường hợp này cần phải có sự cân đối phù hợp.

Vincom Village_1

Chủ đầu tư tư nhân rất chú trọng thưởng phạt tiến độ trong Hợp đồng. Ảnh: Dự án VincomVillage

+ Tạm ứng: Việc được tạm ứng hay không rất quan trọng, nếu hợp đồng không được tạm ứng (một số công trình vốn ngân sách) thì giá chào thầu cần tính toán đến việc huy động vốn, lãi vay ngân hàng.

+ Thưởng phạt: Hiện nay nhiều Chủ đầu tư tư nhân (họ rất quan trọng tiến độ) sẽ có thưởng phạt rất phân minh, nhiều Nhà thầu vì tiến độ không đạt mà bị phạt, khiến cho lãi dự kiến được hưởng cuối cùng chỉ đủ bù vào tiền phạt tiến độ hoặc chất lượng công việc.

Đơn giá 462-2014: Giá nhân công Hà Nội thấp hơn cả Hà Giang

Vừa qua Hà Nội đã ban hành đơn giá 462 năm 2014 (bổ sung, điều chỉnh một số nội dung trong bộ đơn giá 5481/2011). Việc bổ sung các mã hiệu đơn giá mới là bình thường, tuy nhiên đã có một hướng dẫn gây “sốc” cho các Nhà thầu cũng như Chủ đầu tư, đó là việc đơn giá nhân công rất thấp, chỉ tương đương với khoảng thời kỳ năm 2009.
Tải đơn giá 462-2014 của TP Hà Nội

Lý do của việc điều chỉnh giá nhân công này là do hiện nay Thành phố Hà Nội hướng dẫn lại cách tính lương theo lương cơ sở (ban hành tại Nghị định 66/2013), trên cơ sở vẫn vận dụng các hệ số cấp bậc lương được ban hành tại Nghị định 205/2004 của Chính phủ (Đã được bãi bỏ bởi Nghị định 49/2013). Vấn đề là lương cơ sở thì rất thấp (chỉ 1.150.000 đồng/ tháng), còn trước đây tính theo lương tối thiểu vùng (Năm 2011 là 1.350.000 đồng, năm 2012 là 2.000.000 đồng, năm 2013 là 2.350.000 đồng và năm 2014 là 2.700.000 đồng – tính cho vùng 1). Như vậy có thể thấy, với cách tính mới của Hà Nội, lương chỉ tương đương thời điểm khoảng năm 2010.
LV tự cảm nhận rằng, lý do chính Hà Nội giảm giá nhân công một cách đột ngột chính là định hướng thị trường về phù hợp với mặt bằng chung đơn giá Nhân công thời điểm hiện tại. Khi mà thị trường xây dựng, bất động sản đang rơi vào trầm lắng thì việc điều chỉnh nhân công giảm là điều cần thiết. LV dùng từ định hướng bởi việc đấu thầu – ký hợp đồng với đơn giá nhân công như thế nào hoàn toàn do Chủ đầu tư và Nhà thầu quyết định, chỉ có công trình 30% vốn ngân sách trở lên tại địa bàn Hà Nội mới phải bắt buộc áp dụng bảng giá nhân công ở trên. Có điều quyết định công bố đơn giá mới này sẽ kéo mặt bằng giá nhân công xuống, điều đó có lợi cho các Chủ đầu tư là điều chắc chắn.
Có một bạn bên Nhà thầu nhắn tin cho LV hỏi: “Anh ơi, bọn em mà áp dụng Quyết định 462 của Hà Nội thì “chết” đến nơi rồi, lấy gì mà ăn, bên em chuyên làm công trình vốn ngân sách”. LV chỉ cười mà nói “Nhà nước giảm bớt đơn giá nhân công thì Nhà thầu phải giảm bớt phần chi A đi thôi”. Cậu ấy buồn bã trả lời “Thành luật rồi mà anh, sao giảm được”….
Đánh giá chủ quan của LV:
+ Đơn giá nhân công không nên tính theo công thức mà các địa phương nên dựa trên yếu tố thị trường chung, đưa ra một bảng công bố đơn giá nhân công kiểu như công bố giá vật liệu hiện trường hiện nay vẫn làm.
+ Hà Nội đưa ra cách tính đơn giá nhân công dựa trên lương cơ sở, vậy nếu cách tỉnh cũng áp dụng cách này thì rõ ràng những tỉnh như Hà Giang chẳng hạn, sẽ có đơn giá nhân công cao hơn nhiều so với Hà Nội. Điều này là không phù hợp với các vùng lương mà Chính phủ ban hành trong Nghị định về lương tối thiểu vùng

Lưu ý: Hà Giang phụ cấp lưu động 40% LTT, Phụ cấp khu vực 40% Lương TT, Phụ cấp không ổn định SX 10%, Lương phụ và CP khoán trực tiếp = 16% Lương cấp bậc (Đơn giá Hà Giang 1728 năm 2006)

P/s: Gửi các bạn một file dự toán phần ngầm mình vừa chạy thử lại bằng phần mềm Dự toán GXD (Riêng phần thông số chi phí tiền lương có cải biên đi một chút) Tải file đính kèm tại đây

Dự toán GXD – sự tương đồng với hệ điều hành Android

Bài viết này viết về phần mềm dự toán GXD bằng cảm xúc yêu công nghệ!

(Nhiều người đọc tưởng mình PR cho Công ty GXD, mà tưởng thế cũng đúng, PR cũng được vì mỗi tháng Công ty GXD – nơi mình dạy học cũng mang lại cho mình khoản thu nhập kha khá, đủ để trả nợ vay mua nhà tại ngân hàng các bạn ạ :) )

Thấy anh Thế Anh với Thầy Quân tranh luận bằng những commen sâu sắc trên cái STT mình viết cảm nhận nhanh về GXD9. Mình muốn giải thích chút tại sao mình ví GXD như Android, mà không ví như iOS 7, Winphone 8 hay BlackBerry10…

Về lịch sử phát triển: Dự toán GXD cũng có những nét tương đồng như sự phát triển của Android (cái này các bạn dùng Android nhiều chắc rõ, từ Cupcake, Donut, Eclair,Foyor… cho đến bây giờ là Jelly Bean và sắp tới là Kikat…), GXD bắt đầu xuất hiện từ cuổi năm 2008, đầu năm 2009 cùng thời điểm phiên bản Android 1.5 lần đầu xuất hiện trên chiếc điện thoại G1 của Google

Từ đó đến nay Dự toán GXD cũng trải qua khá nhiều phiên bản nâng cấp, và mình có dịp xài tất cả các phiên bản vì phụ trách hướng dẫn thực hành cho lớp Đo bóc tiên lượng và Lập dự toán của Công ty GXD. Mỗi lần nâng cấp lại có thêm những tính năng mới mẻ, tạo cảm giác như khi xài các tính năng mới trên Android vậy (Mình bắt đầu xài Android lần đầu vào năm 2010 trên chiếc Galaxy S1)

Ảnh

Lịch sử các hệ điều hành Android

Về sự tùy biến: Mình ví Dự toán GXD như Android bởi điều này, GXD có file Dutoan.xlt giúp chúng ta có thể thoải mái tùy biến giao diện, khi cần ta có thể biến thành một phần mềm chuyên chạy thanh toán, khi lại chuyên dự thầu hoặc các công trình như dân dụng, giao thông, thủy lợi…Ở trên Android cũng tương tự, khi bạn Root được máy, bạn sẽ đi vào từng ngõ ngách của của hệ điều hành và tùy biến nó tùy theo sở thích của mình. Tất nhiên sự tùy biến thái quá đôi khi cũng làm cho người dùng gặp rắc rối, và tính bảo mật không cao nên Android không ổn định như trên iOS của Apple. Tương tự, cơ sở dữ liệu của PM dự toán GXD khá dễ sửa, dễ thêm bớt (file excel), điều này giúp người dùng có thể đi sâu vào sửa đổi, tùy biến cơ sở dữ liệu định mức, đơn giá theo ý của mình. Nhưng cũng giống như Android, dữ liệu dễ xâm nhập thì rất nhiều công ty khác có thể “chôm” dữ liệu của GXD. Ở Nước ngoài, việc bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ rất tốt, còn ở Việt Nam, điều này sẽ làm tác giả Dự toán GXD hơi buồn (?).

Về các tính năng: Nhiều người nói, dùng dự toán Acitt là đủ, nó rất cơ bản và bao năm nay nó vẫn vậy, giao diện thì xấu nhưng dùng lành. Mình lại liên tưởng việc này giống như bạn dùng chiếc Nokia Asha vậy, nó nghe gọi tốt, pin lâu, cũng vào được mạng nhưng rất chậm. Và khi cần những tính năng thông minh thì cái điện thoại này chịu. Chẳng hạn như muốn dẫn đường, la bàn để xác định hướng thì chắc phải xài Smartphone rồi.

Ảnh

Dự toán GXD 9 với nhiều tính năng mới

Về các dữ liệu đính kèm: Giống như trên Android có Google Market hay trên iOS có Appstores, Phần mềm dự toán GXD cũng có một kho tài liệu đi kèm vô cùng phong phú từ Diễn đàn giaxaydung.vn và từ chính Cộng đồng Giá xây dựng. Nếu các bạn sử dụng Dự toán GXD và biết kết hợp kho tri thức xây dựng phong phú này thì sẽ không sớm thì muộn, cũng trở thành bậc thầy trong lĩnh vực Dự toán.

Về dự toán GXD9: Dự toán GXD9 có rất nhiều tính năng mới lạ mà chưa có bất cứ trên phần mềm nào, sự tùy chọn các tính năng rất cao, các lệnh kết nối phong phú, phải nói nó như một chiếc Galaxy Note  chạy Android tương đối toàn diện. Tuy nhiên phải là chuyên gia dùng mới sướng, nó sẽ rất khó cho ai tiếp xúc lần đầu, vì vậy mình cũng mong trong các lớp Dự toán khởi điểm (cho những người mới lần đầu tiếp xúc dự toán), thầy Thế Anh sẽ giúp các học viên hiểu về bản chất dự toán, từ đó vận dụng vào Dự toán GXD như thế nào. Tóm lại, dù được tặng một chiếc Galaxy Note 3, nhưng chưa bao giờ dùng Android thì vẫn phải tìm hiểu từ đầu, từ những việc như Đăng nhập, Đồng bộ dữ liệu, Cài đặt ứng dụng…

Tóm lại, mình vẫn bảo lưu quan điểm:

“Dùng dự toán GXD9 như dùng một chiếc Smartphone cao cấp chạy Android vậy! Hệ điều hành rất thông minh, tùy biến và nhiều tính năng nhưng nếu bạn muốn trở thành một chuyên gia bạn phải tìm hiểu sâu về nó”

Lê Vinh 12.10.2013

Mẹo quản lý thư viện tài liệu tham khảo

Bài viết này Lê Vinh chia sẻ về cách lưu tài liệu tham khảo một cách khoa học, hiệu quả

Nhiều người có thói quen khi tìm kiếm một tài liệu tham khảo nào đó thường vào Google, Search tên sau đó Tải xuống hoặc Đọc ngay trên web kết quả, khi tải xuống thì cũng vứt tạm ở đâu đó như là thư mục Downloads, Desktop… Với cách làm như thế chúng ta vô tình lãng phí tài nguyên và khi cần tìm hiểu một nội dung khác chính trong văn bản đó, chúng ta lại phải mất công đi tìm kiếm và tải lại. Đôi khi đi công trường không có internet, 3G mà đang cần gấp thì thật bất tiện. Hôm nay LV chia sẻ một vài mẹo nhỏ để giúp chúng ta quản lý Dữ liệu tài liệu tham khảo một cách có hiệu quả:

1, Hãy tạo tủ sách tài liệu cho riêng mình:

Trong máy tính, các bạn hãy tạo một Folder với tên “Các tài liệu văn bản luật tham khảo” , sau đó tạo các Folder con với các nội dung cần lưu trữ. Ví dụ: Theo hệ thống văn bản luật Việt Nam, Lê Vinh chia theo thứ tự các cấp ban hành:

Folder1: 1.Luat-QuocHoi

Folder2: 2.Chinh phu

Folder3: 3.Bo Xay Dưng

….

A1

Tạo một tủ sách tài liệu ngay trong máy tính. Ảnh: Chụp màn hình

Trong các Folder đó tiếp tục chia nhỏ theo các lĩnh vực, ví dụ với các Nghị định của Chính phủ ta chia ra:

1.Quan ly chi phi

2. Quan ly chat luong

3. Quan ly dau thau lua chon nha thau

A2

Nên chia theo từng lĩnh vực trong ngành mà mình đang làm. Ảnh: Chụp màn hình

Lưu ý: Các Folder nên đặt số để giúp ta sắp xếp hiển thị theo thứ tự, tạo sự ngăn nắp trong quá trình sử dụng tài liệu, đồng thời tìm kiếm cũng dễ dàng.

2, Tạo thói quen: Tải tài liệu về hãy lưu đúng chỗ

Giống như mua một cuốn sách mới về, các bạn hãy để nó đúng ô trong tủ tài liệu. Khi cần chúng ta tìm kiếm rất dễ dàng.

Mẹo nhỏ:

a, Trên các trình duyệt nên cài đặt tùy chọn: Thay vì lưu vào Folder mặc định có tên Downloads, các bạn tích vào ô “Luôn hỏi tôi nơi lưu tập tin”

A3

Trong trình duyệt Chrome: Tích chọn hỏi nơi lưu tài liệu trong mục Tùy chọn

A3

Tương tự trong FireFox dành cho ai yêu trình duyệt cáo lửa

b, Nên tìm kiếm và tải tài liệu ở các trang chính chủ, ví dụ với Nghị định nên download ở trang điện tử Chinhphu.vn.

Chúng ta nên tìm kiếm và download các tài liệu tại các trang web chính chủ. Trường hợp không có trên trang chính chủ thì nên tìm download ở các trang chia sẻ miễn phí và tin tưởng.

3, Hãy đặt lại tên file theo cách dễ hiểu nhất:

Khi lưu tài liệu, bạn nên đặt lại tên file theo cách bạn dễ hiểu, dễ tìm nhất. Ví dụ, với Nghị định 66/2013 của Chính phủ, khi download về sẽ có tên là “66-nd”, khi lưu trữ vào tủ sách ta nên đặt lại là “Nghi dinh luong TT chung – 66-2013”

A5

Nên sửa lại tên file để dễ hiểu và dễ tìm nhất khi cần

4, Hãy lưu cả file PDF và File word (nếu có)

Bản PDF thường là bản chuẩn, tức không sửa được. Với bản file word, các bạn có thể tìm kiếm dễ dàng hơn với lệnh (ctrl+F), tuy nhiên đôi khi chúng ta vô tình sửa làm sai văn bản rồi lại save lại, hoặc cũng có người sửa văn bản theo mục đích riêng của mình rồi vô tình chia sẻ lại cho người khác, như thế sẽ rất nguy hiểm.

Vì vậy bạn nên lưu cả bản PDF và Word để đối chiếu khi cần.

5, Có thể lưu trữ bằng dữ liệu trực tuyến (Đám mây)

Hiện nay có nhiều nhà cung cấp dịch vụ dữ liệu trực tuyến, và thông thường chúng ta được Free khoảng 5Gb, đủ để lưu trữ các tài liệu tham khảo, 5Gb đủ ta tạo ra một tủ sách khổng lồ “trên mây”.

Nhiều người sử dụng nhà cung cấp tiêu biểu và uy tín như Dropbox, Skydrive, GoogleDrive…để lưu trữ, vì việc đồng bộ hóa với dữ liệu trên các máy tính khá dễ dàng. Các bạn cũng lưu ý về tính bảo mật của các tài liệu này, vì thế nếu nó quá quan trọng hoặc tế nhị thì cũng không nên đưa lên trực tuyến.

Với dữ liệu được đưa lên mây, khi không may ổ cứng bị hỏng, tài liệu của chúng ta đã cất công sưu tầm sẽ không bào giờ mất mát cả

A7

Dữ liệu đám mây ngày càng phổ biến

LV sử dụng Dropbox để lưu “Tủ tài liệu tham khảo”, vì nó có thể giúp mình đọc được tài liệu từ bất cứ đâu, và việc đồng bộ máy tính làm việc ở công ty cũng như máy tính ở nhà một cách dễ dàng. Các tài liệu tham khảo khi thì ta lưu vào máy ở cơ quan, lúc lưu máy ở nhà nên việc có một bộ dữ liệu trực tuyến là rất hữu ích.

Với Dữ liệu đám mây, khi ngồi họp ta cũng có thể mở Smartphone hoặc Máy tính bảng truy cập một cách dễ dàng, nhanh chóng.

dropbox-ilamont-flickr-520x245

Với đám mây và một chiếc Smartphone hoặc Tablet, ta có thể đọc tài liệu ở bất cứ đâu

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 6)

Tìm hiểu về việc tính chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4,          Phần 5

Phần tiếp của Chuỗi bài viết “Làm thế nào để giỏi dự toán” hôm nay, LV sẽ giúp các bạn định hình rõ về Chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng.

Vật liệu cùng với nhân công và Máy thi công là là thành phần chính cấu thành Chi phí xây dựng trong Dự toán. Từ trước đên nay, việc xác định giá vật liệu thường được lấy bằng các cách đơn giản như lấy theo Công bố giá Liên sở Tài chính – Xây dựng, lấy theo Báo giá của nhà cung cấp, của một số website chuyên về báo giá….Tuy nhiên khi mà công trình thi công ở một địa bàn khó khăn (vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng núi cao…) hoặc đó là vật tư mà bắt buộc Nhà thầu phải lấy tại nguồn cấp thì việc tính thêm chi phí vận chuyển vật liệu là hết sức cần thiết.

Hiện nay theo hướng dẫn của Thông tư 04/2010/TT-BXD, việc xác định chi phí vận chuyển vật liệu có thể thực hiện bằng hai cách:

-         Xác định bằng định mức vận chuyển

-         Xác định bằng bảng cước vận chuyển hàng hóa.

Có ý kiến cho rằng, hướng dẫn của Bộ xây dựng vẫn chưa mô tả hết các phương pháp vận chuyển (các phương tiện khác nhau) hay điều kiện vận chuyển (đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng không…). Tuy nhiên, chúng ta tạm bỏ qua các yếu tố đó, tập trung vào việc tính vận chuyển vật liệu theo hai cách trên thì cũng đã có nhiều điều đáng bàn.

Ngoài ra hiện nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn khái niệm “giá vật liệu đến chân công trình” và “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng”. Thực ra chúng khác nhau, ví dụ một công trình giao thông (đường, cầu…) kéo dài qua nhiều địa bàn thì không biết nơi nào là “chân công trình”. Do vậy dùng từ “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng” mới chính xác, ngoài ra nó còn ẩn ý một điều “giá vật liệu bao gồm cả chi phí tại hiện trường (vận chuyển nội bộ công trường, bốc xếp, hao hụt, bảo quản …)

Công thức tính giá vật liệu đến hiện trường được xác định bằng công thức sau (quy định tại Phụ lục số 6, Thông tư 04/2010/TT-BXD):

Gvl = Gcct + Cht   = Gg+ Cvc + Cht

Trong đó :

- Gcct: giá vật liệu đến công trình; Gcct = Gg+ Cvc

- Gg: giá vật liệu gốc;

- Cvc: chi  phí vận chuyển đến công trình (bao gồm cả chi phí trung chuyển, nếu có).

- Cht: chi phí tại hiện trường bao gồm: bốc xếp, vận chuyển trong nội bộ công trình, hao hụt bảo quản tại kho, bãi.

vanchuyenVL

Minh họa các thành phần chi phí trong giá vật liệu.

Một số lưu ý khi tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng các bạn nên chú ý:

1, Khi thực sự thấy cần thiết hãy tính toán các chi phí liên quan đến vận chuyển, chi phí hiện trường bởi việc này khá phức tạp và nhiều khi Chủ đầu tư không duyệt các khoản chi phí này.

2, Nhiều địa phương không ban hành bảng cước vận chuyển vật liệu, hàng hóa bằng ô tô nên việc tính toán gặp nhiều khó khăn. Nhiều Chủ đầu tư chấp nhận áp dụng bảng cước 89 từ năm 2000 tuy nhiên việc điều chỉnh giá cước về hiện tại cũng khá phức tạp.

3, Mặc dù là một thành phần chi phí trong Giá vật liệu, nhưng thực tế chi phí hiện trường ít được tính toán. Lý do bởi trong định mức thường đã có vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m. Các chi phí liên quan đến bảo quản, hao hụt dự trữ… nhà thầu phải chịu trách nhiệm

4, Khi áp dụng bảng cước, lưu ý nhiều chi phí được tính thêm:

+ Hàng bậc 2 được tính bằng 1,1 lần hàng bậc 1; bậc 3 tính thêm 1,3 lần và hàng bậc 4 tính thêm 1,4 lần hàng bậc 1.

+ Xe 3 cầu chạy xăng (đường miền núi khó khăn), xe dưới 4 tấn được cộng thêm 30% cước.

+ Xe có thiết bị tự đổ cộng thêm 15% cước, xe có thiết bị hút xả cộng thêm 20% cước;

+ Các quy định tăng, giảm cước khác theo quy định của các Địa phương.

LV sẽ có bài viết minh họa rõ hơn cách tính Giá vật liệu đến hiện trường bằng bảng cước hàng hóa trong thời gian gần nhất.

Phần tiếp theo: Cách tính chi phí nhân công trong dự toán

Câu hỏi: Những biểu cần in khi lập dự toán

Câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa gửi vào email của LV với nội dung về các phương pháp lập dự toán cũng như các biểu cần in ấn khi lập dự toán.

Nội dung của email như sau:

Trước tiên em xin cảm ơn những chia sẻ hữu ích của anh trên blog, em đang học dự toán và có một số thắc mắc mong Anh bớt chút thời gian giải thích giúp ạ

Thứ nhất: Hiện nay em biết có 2 phương pháp lập dự toán  theo (Đơn giá * Khối lượng)

1.      Lập dt theo đơn giá địa phương và bù trừ chênh lệch

-          Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh

-          Phương pháp bù trừ trục tiếp (bừ trừ bằng lương và giá nhiên liệu năng lượng tại thời điểm lập dự toán)

2.      Lập dt theo đơn giá công trình

3.      Khi chạy bảng dự toán dự thầu

Vậy cho em hỏi giá trị Gxd của 3 bảng trên có bằng nhau không ?

Thứ hai: Các bảng biểu (các sheet) cần in khi lập dự toán theo các pp trên ?

Thứ ba: Ý nghĩa, ưu nhược điểm của từng pp?

Cảm ơn anh nhiều !

 Trả lời:

Trước hết, xin cảm ơn câu hỏi khá hay của bạn, và thay vì trả lời riêng, LV sẽ post câu hỏi lên blog cá nhân để mọi người cùng tham khảo.

LV sẽ trả lời theo đúng thứ tự câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa:

Thứ nhất: Đúng là có 2 phương pháp lập dự toán như bạn nói, bản chất của 2 phương pháp là như nhau, đều phải xác định giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công cho thời điểm hiện tại, sau đó tính thêm các khoản chi phí khác (trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại) theo đúng hướng dẫn trong TT 04/2010-BXD.

Còn Dự toán dự thầu là một trong các Phân loại của Dự toán (chúng ta thường nghe đến Dự toán thiết kế; Dự toán gói thầu; Dự toán dự thầu hay Dự toán thi công).

Nếu các dữ liệu nhập vào để giúp tính toán là như nhau (Bảng giá vật liệu, Chế độ chính sách tiền lương, Giá nhiên liệu, năng lượng) thì kết quả đương nhiên của cả 2 cách tính toán theo Đơn giá địa phương hay Đơn giá công trình sẽ phải bằng nhau. Tương tự giá trị Gxd và Dự thầu là như nhau.

Thứ hai: Các bảng biểu cần in khi lập dự toán theo các PP trên, LV sẽ kê theo thứ tự để bạn tham khảo. Lưu ý:

+ LV chỉ kê cho Tổng hợp chi phí xây dựng để bạn tham khảo

+ Hai phần luôn phải có là Bìa dự toán và Các căn cứ lập dự toán LV sẽ không kê sau đây.

+ Nếu dự toán có nhiều hạng mục thì ta in thêm bảng Tổng hợp giá trị các hạng mục

Phương pháp 1: Lập dự toán theo PP đơn giá địa phương:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+ Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

2, Nếu dùng PP bù trừ trực tiếp (với nhân công và máy thi công), cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu, nhân công, máy thi công  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy điều chỉnh (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

Phương pháp 2: Lập dự toán theo PP đơn giá công trình:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng tổng hợp Dự toán đã cập nhật theo giá công trình (Sheet Gxd)

+ Bảng chạy Đơn giá chi tiết (trong Dự toán GXD là Sheet DGCT XD)

+ Bảng giá trị vật tư (dự toán GXD là Sheet GVT XD)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

DSC_0098

Có nhiều PP lập dự toán nhưng nếu hiểu rõ chúng ta sẽ thấy bản chất các phương pháp đều giống nhau. Ảnh: LV

Với dự toán dự thầu: Bạn phải kiểm tra mẫu yêu cầu của HSMT, thường sẽ phải in các biểu sau đây

Biểu bắt buộc: Bảng tổng hợp giá dự thầu (gồm các hạng mục)

Trong các hạng mục:

Biểu 1: Tổng chi tiết giá dự thầu (Tham khảo Sheet DTDT trong Dự toán GXD)

Biểu 2: Phân tích đơn giá dự thầu (Tham khảo Sheet DGCT trong Dự toán GXD)

Biểu 3: Bảng tính đơn giá vật liệu trong Dự toán dự thầu (Tham khảo Sheet VLHT hoặc GVT trong Dự toán GXD)

Với dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như trong dự toán, tuy nhiên ta không cần in ấn hết như trên do mẫu đã quy định, hơn nữa khi chấm thầu người ta sẽ kiểm tra file gửi kèm của Nhà thầu.

Thứ ba: Ưu nhược điểm của từng phương pháp

Các phương pháp có kết quả như nhau, với PP đơn giá địa phương ở miền Bắc hay áp dụng thì nó thành tiền lệ, cũng do các phần mềm dự toán truyền thống (Acitt, G8…) vẫn hay áp dụng cách này. Ưu điểm của các này là rất nhanh nếu đủ các dữ liệu như Đơn giá địa phương và các văn bản điều chỉnh hệ số dự toán. Tuy nhiên nếu không đủ các dữ liệu được địa phương công bố hoặc ban hành thì việc tính toán trở nên khó khăn.

Với PP lập đơn giá dự toán công trình, ta hình dung công trình ở đâu tính toán ở đó, và ta chỉ cần nắm được giá vật liệu, nhiên liệu năng lượng cũng như chế độ chính sách về tiền lương, phụ cấp ở khu vực đó thì sẽ giúp tính toán nhanh chóng. Ở Miền Nam các phần mềm hướng theo cách này, và nó cũng trở thành tiền lệ.

Với Dự toán dự thầu, chúng ta bắt buộc phải tuân theo hồ sơ Mời thầu hoặc Yêu cầu, do vậy không có sự lựa chọn mà chúng ta phải làm theo mẫu. Tuy nhiên cũng phải lưu ý, với Dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như đã nêu ở trên.

Vấn đề thanh toán các công việc liên quan đục lỗ chờ lắp đường ống

Một bạn có tên Hà có email eyenight….@yahoo.com ở Hà Nội, đang công tác ở vai Chủ đầu tư có gửi mail hỏi một số câu hỏi liên quan đến việc thanh toán chi phí cho công tác thi công phần đường ống cấp thoát nước của Nhà thầu. Lê Vinh trên quan điểm hiểu biết sơ bộ về lĩnh vực này, xin được đưa ra một số ý kiến cá nhân và phản hồi lại cho bạn đó tham khảo. Tiện post lên blog để mọi người có thể đọc, thảo luận thêm.

Hỏi:
1, Việc khoan lỗ để lắp các ống thoát nước chậu rửa, thoát xí, máy giặt… có được tính riêng cho nhà thầu không? (Việc này nhà thầu xây dựng phải đặt sẵn lỗ chờ hay là nhà thầu cấp thoát nước phải đục sau khi vào thi công?)

Trả lời:Nguyên tắc là Nhà thầu làm theo đúng hồ sơ thiết kế đã nêu trong hợp đồng (hồ sơ mời thầu). Trong hồ sơ thiết kế đầy đủ bao giờ cũng phải có các lỗ chờ để phục vụ thi công lắp đặt thiết bị vệ sinh, đường ống. Có thể lúc thi công phần thân thô chưa có Hồ sơ thiết kế phần điện nước thì Chủ đầu tư phải chấp nhận trả thêm phần chi phí này cho các công việc phát sinh liên quan đến khoan, đục lỗ.

Mặt khác có thể nhìn thấy rõ, trong Định mức các công tác lắp ống thoát nước không có công tác khoan bê tông.

Do vậy, nếu có các công tác đó ta phân ra 2 trường hợp:

+ Có trong hồ sơ thiết kế ban đầu, nhưng Nhà thầu thi công bê tông không trừ lỗ thì họ phải khoan đục vì họ làm chưa đúng hồ sơ thiết kế.

+ Không có trong hồ sơ thiết kế ban đầu mà bổ sung ở phần điện-nước sau khi đã thi công phần thô thì Chủ đầu tư phải mất thêm chi phí cho công tác khoan đục.

DSC_0154

Hệ thống đường ống thoát nước thải trong công trình. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
2, Việc thử áp lực và thử kín đường ống cấp thoát nước có được tính thêm cho nhà thầu không? Theo mình thì việc thử này là nằm trong BPTC của nhà thầu, nhà thầu phải có trách nhiệm thi công đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho CĐT nghiệm thu nên không được tính.

Trả lời:

Nhà thầu chỉ thi công đúng các công tác để hoàn chỉnh theo đúng hồ sơ thiết kế nêu trong hợp đồng. Việc thí nghiệm vật liệu trước khi thi công thuộc về trách nhiệm của Nhà thầu (để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán (HSCL)). Đối với các thí nghiệm hiệu chỉnh theo yêu cầu của Chủ đầu tư thì Chủ đầu tư phải mất thêm phí (Thuộc về Chi phí lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh trong Gtb).

Vậy với công tác thử kín đường ống cấp nước, phải xem lại:

+ Trong BPTC Nhà thầu có mô tả không, TCVN về công tác đó có yêu cầu không

+ Trong Đơn giá họ chào có việc đó không

Nếu có Nhà thầu phải chịu đơn giá đó

Trường hợp không có thì đương nhiên là yêu cầu riêng của Chủ đầu tư và Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí này.

Phản hồi: Ảnh Trần Ngọc Hải (SG) có phản hồi về vấn đề này như sau, LV post lên đây các bạn tham khảo:

Các nút bịt chỉ là biện pháp thi công của nhà thầu để khỏi tắc đường ống. Cái chủ đầu tư nghiệm thu là chất lượng, kỹ thuật chứ không nghiệm thu biện pháp của nhà thầu

Việc thử áp lực hay kín là trách nhiệm của nhà thầu để cdt nghiệm thu chất lượng. Ví dụ công tác bê tông ngoài nghiệm thu bê tông đổ tại chỗ đạt ra còn phải quan tâm đến thẩm mĩ, chất lượng như bê tông rỗ hay không, phù hay không. Chẳng Chủ đầu tư nào bỏ tiền đi bịt lỗ rỗng bê tông hay đi mài cạnh khi đã nghiệm thu công tác đổ bê tông

chungcuHNlevinhxd

Chung cư Linh Đàm – Hà Nội. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
3, Các nút bịt để phục vụ BPTC thử kín, thủ áp lực và bảo vệ không cho rác thải chui vào đường ống cấp thoát nước có được tính không?

4, Định mức lắp đặt ống nước đã bao gồm việc đục tường, sàn để đi ngầm ống chưa? (Theo mình thì chưa. nhưng từ xưa đến giờ chả thấy ai tính đến việc này cả?)

Trả lời:

Những vật liệu không có trong Định mức của các công tác lắp đặt đường ống và các phụ kiện đường ống thì phải tính riêng, trường hợp này chắc chắn Nhà thầu được tính riêng.

Lời khuyên: Với các công tác cụ thể, bạn cần mở Định mức 1776, 1777 ra xem công tác đó được mô tả gồm những việc gì, đã bao gồm hoặc chưa có những việc gì (đọc kỹ cả phần thuyết minh và các thành phần vật liệu, máy thi công)… Ví dụ như công tác lắp đặt đường ống nước thì chưa bao gồm việc đục tường, sàn để đi đường ống, nhưng công tác lắp đặt ruột gà, bảo ôn thì lại đã gồm việc đục, trát phẳng…

Chúc anh thành công trong công việc!

Thân chào!