Ví dụ cách tính dự phòng trong dự toán (theo Năm)

Cách tính Dự phòng cho công trình lớn, có thời gian thi công dài

Bài toán: Tính toán cho công trình nhà cao tầng có tổng dự toán khoảng 202,7 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 năm

Trong đó:

–         Chi phí xây dựng: 160 tỷ đồng

–         Chi phí thiết bị: 20 tỷ đồng

–         Chi phí quản lý dự án: 2,7 tỷ đồng

–         Chi phí tư vấn: 10 tỷ đồng

–         Chi phí khác: 10 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 3 tỷ đồng

Tổng dự phòng trước trượt giá là VT = 202,7 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 10,135 tỷ đồng

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2 – T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 năm);

– t: số thứ tự năm phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

– Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t;

Ở đây giả sử kế hoạch vốn năm thứ nhất là 40% (V1= 81,08 tỷ đồng); năm thứ 2 là 60% (V2=121,62 tỷ đồng). Lưu ý nếu có bảng tính toán các chi phí cụ thể thì các số liệu V1, V2 phải phù hợp với bảng kế hoạch nguồn vốn đã viết trong bảng tính toán dự án.

– LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t.

Untitled3
– IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 năm gần nhất so với thời điểm tính toán

Untitled4
Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, vậy để tính toán bạn có thể chọn các thời điểm Quý, Năm gần nhất để tính toán. Ở đây Lê Vinh lựa chọn tính toán cho 3 năm gần nhất, và lấy các thông số chỉ số giá xây dựng của các năm để nhập vào, riêng năm 2013 do chưa có chỉ số giá xây dựng của cả năm nên chỉ lấy Quý III/2013.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta dễ dàng nhận ra chỉ số giá giữa năm 2011 và năm 2010 tăng đến 30,85%, trong khi năm 2012 so với 2011 và 2013 so với 2012 đều có chỉ số giảm (lần lượt khoảng -0,6% và -1,6%). Tổng lại,  mức trung bình 3 năm vẫn có mức tăng khoảng 9,6%/năm. Theo hướng dẫn Thông tư 04/2010, những năm có đột biến giá thì phải bỏ qua, cụ thể ở đây năm 2011 so với năm 2010 rõ ràng có sự đột biến quá lớn, phản ánh đúng thị trường bất động sản và xây dựng thời kỳ đó, một thời kỳ tăng nóng. Nếu tính toán chuẩn xác thì chúng ta nên bỏ qua so sánh 2 năm này, và khi đó cần lùi các chỉ số tính toán về các thời kỳ trước. Tuy nhiên chúng ta sẽ phải lùi rất xa về các năm 2007, 2006 thì mới chuẩn xác được, bởi giai đoạn 2008-2011 là một giai đoạn lạm phát rất mạnh. Bởi lý do đó, Lê Vinh quyết định vẫn để nguyên tính toán năm 2011 so với năm 2010, và kết quả tính toán sẽ bù lại cho giai đoạn giảm phát về sau (2012, 2013), đồng thời ta có thể cân đối kết quả tính cuối cùng bằng cách điều chỉnh chỉ số biến động dự báo

ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là -2%/năm. Thực ra chẳng có căn cứ nào cụ thể để bảo vệ con số này cả, tuy nhiên để dự báo chỉ số giá xây dựng 3 năm vừa rồi thì thấy Năm 2013 này có mức trượt giá xây dựng so với Năm 2011 âm là hợp lý, cụ thể giá vật liệu, nhân công và máy thi công đều có xu hướng giảm. Và dự báo 2 năm tới 2014, 2014 chính phủ vẫn kiềm chế lạm phát, thị trường bất động sản chưa thể khởi sắc đột biến được, do vậy việc cân đối kết quả tính toán làm sao mức dự phòng phí cuối cùng ở mức khoảng 5-6% là hợp lý (thay vì gần 10% như Ixdbq đã tính ra).

 Untitled5

GDP = GDP1 + GDP2 = 35.209.449.921 đồng  (Tương đương khoảng 17%)

Tải file đính kèm: 

Hướng dẫn cụ thể

File ví dụ đính kèm

Kinh nghiệm rút ra khi tính Chi phí dự phòng trượt giá:

+ Khi tính toán, rõ ràng Gdp2 (dự phòng trượt giá) phụ thuộc rất nhiều ở chỉ số giá xây dựng 3 năm (3 quý) gần nhất. Hay nói cách khác, dự phòng trượt giá phụ thuộc vào mức biến động thị trường ở thời điểm gần đây, do vậy cũng cần có thêm sự tư duy định hướng mang tính dự báo cho các năm tiếp theo. Sự dự báo này cần sự cập nhật thêm các tin tức điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ, của ngành Xây dựng.

+ Các chỉ số giá xây dựng tìm kiếm ở trên mạng internet được nhiều trang chia sẻ, tuy nhiên người lập dự toán cũng có thể bị nhầm lẫn  các nội dung, ví dụ như công trình gì, địa bàn ở đâu, quý hay năm, công trình cao bao nhiêu tầng. Do vậy cần có sự xem xét, chọn lọc kỹ lưỡng trước khi áp dụng.

+ Lưu ý kể từ năm 2012 đến nay, hầu hết các tỉnh đều đã ban hành chỉ số giá xây dựng (thay cho trước đây Bộ xây dựng công bố). Do vậy việc cập nhật, tìm kiếm các văn bản công bố liên quan đến địa phương nơi mình đang lập dự toán cũng là một vấn đề cần lưu tâm.

+ Mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.  thực ra là một chỉ số rất khó xác định, phụ thuộc vào cảm tính chủ quan của người lập dự toán. Hầu hết các nhà tư vấn khi tính toán đều để bằng 0, tuy nhiên theo Lê Vinh, có thể dùng chỉ số này để cân bằng kết quả tính toán cuối cùng.

+ Thực ra chúng ta hoàn toàn có thể “bốc thuốc” kết quả tính Gdp2, bởi yếu tô này hoàn toàn mang tính dự đoán theo thị trường. Do vậy, qua việc xem xét chỉ số giá xây dựng, thậm chí là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được cập nhật liên tục trên các phương tiện đài báo thì việc dự báo Gdp2 cũng không quá khó. Ví dụ, 2 năm vừa rồi, mức trượt giá tiêu dùng CPI ở mức khoảng 6,5%/năm, do vậy dự báo trượt giá cho ngành xây dựng trong những năm tới có thể ở mức 6-6,5% /nămlà khá an toàn.

+ Lê Vinh cũng thống kê ra đây chỉ số giá CPI của 10 năm qua để các bạn tiện theo dõi: Năm 2004 tăng: 9,5%; năm 2005: 8,4%; năm 2006: 6,6%; năm 2007: 12,63%; năm 2008: 19,89%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%; năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%. Trung bình 10 năm qua: 10,67%

 Đọc thêm: Cách tính dự phòng trượt giá trong dự toán theo quý

 

Advertisements

Ví dụ tính dự phòng phí trong dự toán (Theo Quý)

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

Cách tính Dự phòng cho công trình nhỏ, thời gian thực hiện ngắn

Bài toán: Tính toán cho công trình gồm 10 căn hộ liền kề có tổng dự toán khoảng 29,8 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 quý.

Trong đó:

–         Chi phí xây dựng: 26 tỷ đồng

–         Chi phí thiết bị: 3 tỷ đồng

–         Chi phí quản lý dự án: 0,32 tỷ đồng

–         Chi phí tư vấn: 0,4 tỷ đồng

–         Chi phí khác: 0,08 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 0,016 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

 Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 1,49 tỷ

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2

– T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 quý);

– t: số thứ tự quý phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

– Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t;

– LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t.

Cần lưu ý lãi vay này chỉ phải loại bỏ khi nó được tính trong Chi phí khác (Gk), còn trường hợp bạn tính riêng (như một số người lập dự toán vẫn tính) thì không cần phải trừ yếu tố lãi vay trong bảng tính toán dưới đây.

Untitled3

– IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 quý gần nhất so với thời điểm tính toán;

Untitled4

Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, tức nếu tính toán chuẩn phải tính cho 3 quý gần nhất là Quý III/2013, Quý IV/2013 và Quý I/2014. Tuy nhiên do Thành phố Hà Nội chỉ mới công bố Chỉ số giá xây dựng đến hết Quý III/2013, nên chúng ta chỉ có số liệu tính toán cho các quý I, II, III/2013 mà thôi.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta nhận thấy việc tính toán ra chỉ số trượt giá bình quân hàng quý là rất thấp, kết quả ở đây là chỉ số âm (-), phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế Vĩ mô trong thời gian hơn 1 năm trở lại đây, sản xuất chậm, hàng tồn kho tăng cao, cộng với việc thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát mạnh mẽ của Chính phủ, làm chi chỉ số giá có xu hướng giảm, thậm chí có tháng còn có chỉ số âm (giảm).

 ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân quý đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là +0,5%/quý. Thực ra việc chọn con số 0,5% nếu giải thích cặn kẽ thì chẳng có căn cứ nào cả, nhưng cảm tính của Lê Vinh, ở kết quả tính Ixdbq ở trên đã bị âm, như vậy việc tính dự phòng trượt giá của chúng ta nếu để nguyên sẽ có kết quả âm, điều này làm cho việc tính chi phí dự phòng trở nên vô nghĩa. Hơn nữa, thị trường ở Việt Nam biến đổi rất khó lường bởi các chính sách vĩ mô, do vậy cần dự báo một mức tăng +0,5%/Quý hoặc hơn để đề phòng vẫn tốt hơn.

Có thể dễ dàng đưa ra một ví dụ dẫn chứng ở thời điểm này, từ 1/4, Bộ Giao thông vận tải áp dụng việc cân tải trọng xe ở 63/63 tỉnh thành và việc áp dụng khá nghiêm ngặt. Do vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến giá cước vận tải, trước đây vận chuyển hết 1 đồng thì nay lên 1,6 thậm chí 2 đồng, và ngành vật liệu xây dựng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Tuy nhiên trong bảng tính toán chỉ số Ixdbq của chúng ta ở trên, chưa có những câu chuyện biến động giá do vĩ mô như thế này. Như vậy chúng ta có thể thấy, chỉ số   là một công cụ giúp ta điều tiết kết quả tính toán Gdp2 rất hiệu quả.

Với những công thức, số liệu và kết quả tính toán như trên, ta tính được:

Untitled6

GDP = GDP1 + GDP2 = 1.621.836.527 đồng (Tương đương khoảng 5,4%)

Tải file đính kèm:

Hướng dẫn kèm theo

File ví dụ kèm theo

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

 

Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu?

Một bạn có email dungnguyen2411…@gmail.com có câu hỏi gửi Lê Vinh về nội dung liên quan giữa giá dự thầu và hồ sơ mời thầu

Nội dung câu Câu hỏi như sau: “Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu trong hồ sơ dự thầu?”

Lê Vinh xin Trả lời bạn như sau:

(Lưu ý: Câu trả lời sau áp dụng cho gói thầu xây lắp)

Theo Quy định của Bộ kế hoạch đầu tư, hồ sơ mời thầu gồm 3 phần:

–         Phần 1 gồm các chỉ dẫn đối với Nhà thầu

–         Phần 2 gồm các yêu cầu về xây lắp (kỹ thuật)

–         Phần 3 gồm các yêu cầu trong hợp đồng

1, Phần chỉ dẫn với Nhà thầu đưa ra các yêu cầu về năng lực hồ sơ mời thầu và các hướng dẫn về việc chuẩn bị hồ sơ, niêm phong, nộp hồ sơ. Trong phần ngày bên mời thầu cũng hướng dẫn các mẫu trình bày trong hồ sơ dự thầu từ đơn dự thầu, ủy quyền, thư bảo đảm, các bảng kê khai, biểu trình bày giá dự thầu…

Như vậy với phần chỉ dẫn với Nhà thầu chỉ có các biểu mẫu là liên quan đến việc lập giá dự thầu, chúng ta cần xem xét kỹ để có sự trình bày đúng form mẫu tránh bị trừ điểm khi bên mời thầu đánh giá hồ sơ.

 

2, Phần các yêu cầu về xây lắp là các quy định việc thực hiện thi công xây lắp phải theo bản vẽ thiết kế đã được phê duyệt, kèm theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng để quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây dựng. Do vậy phần này là hết sức quan trọng, cụ thể:

+ Bản vẽ: Giúp chúng ta xác định rõ các đầu việc, khối lượng, từ đó xác định được khối lượng thừa thiếu so với tiên lượng mời thầu để chào bổ sung.

+ Tiên lượng: Giúp ta nhanh chóng xác định đơn giá dự thầu, tổng hợp giá chào thầu. Tiên lượng cũng là cơ sở xem xét các khối lượng thừa thiếu để chào giá bổ sung giúp sau này trúng thầu có cơ sở thương thảo hợp đồng.

+ Các yêu cầu về mặt kỹ thuật: Giúp đưa ra giải pháp thi công hợp lý, từ đó có giá chào thầu hợp lý, đảm bảo chất lượng tiến độ nhưng giá vẫn cạnh tranh. Ví dụ với đào đất hố móng ta có thể có giải pháp đào kết hợp máy, thủ công (tỷ lệ% công việc), đồng thời có các biện pháp đảm bảo thành hố đào, bơm nước và giữ ổn định cho các công trình lân cận.

+ Bên cạnh đó cần xem xét kỹ các yêu cầu về chủng loại vật liệu đưa vào giá dự thầu, ví dụ nếu yêu cầu của Hồ sơ mời thầu là sử dụng các loại thép liên doanh nhưng chúng ta chào giá dự thầu là thép Thái Nguyên thì sẽ không đạt dù giá là thấp hơn.

3, Phần yêu cầu về hợp đồng: Trong phần này ta chú ý 3 yếu tố:

+ Hình thức đơn giá hợp đồng: Hình thức đơn giá liên quan mật thiết đến giá chào thầu, nếu hợp đồng là đơn giá trọn gói hay đơn giá cố định thì giá chào thầu cần dự báo được các yếu tố biến động trong tương lai, tức phải có sự dự phòng trong đó. Nếu hợp đồng đơn giá điều chỉnh thì đương nhiên ta cần cân đối chào giá ở mức thấp, mà quan tâm chủ yếu vào yếu tố kỹ thuật để cạnh tranh với các đối thủ (thường trong đấu thầu ít khi Chủ đầu tư áp dụng đơn giá điều chỉnh). Đặc biệt lưu ý thêm nếu hợp đồng đơn giá trọn gói thì khối lượng phải xác định chuẩn xác ngay từ lúc bóc hồ sơ bản vẽ phục vụ lập giá dự thầu, tránh các khối lượng thiếu gây lỗ trong quá  trình thực hiện hợp đồng.

+ Tiến độ: Tiến độ tối đa được quy định trong hợp đồng và Bảng dữ liệu đấu thầu (Phần 1), túm lại giá hợp đồng cần phải cân đối phù hợp với tiến độ thực hiện. Ví dụ: Nếu thi công 40 căn biệt thự trong vòng 6 tháng thì bạn có thể luân chuyển cốp pha, nhưng nếu phải thi công trong vòng 3 tháng thì việc luân chuyển cốp pha là rất khó. Do vậy việc chào giá ván khuôn trong trường hợp này cần phải có sự cân đối phù hợp.

Vincom Village_1

Chủ đầu tư tư nhân rất chú trọng thưởng phạt tiến độ trong Hợp đồng. Ảnh: Dự án VincomVillage

+ Tạm ứng: Việc được tạm ứng hay không rất quan trọng, nếu hợp đồng không được tạm ứng (một số công trình vốn ngân sách) thì giá chào thầu cần tính toán đến việc huy động vốn, lãi vay ngân hàng.

+ Thưởng phạt: Hiện nay nhiều Chủ đầu tư tư nhân (họ rất quan trọng tiến độ) sẽ có thưởng phạt rất phân minh, nhiều Nhà thầu vì tiến độ không đạt mà bị phạt, khiến cho lãi dự kiến được hưởng cuối cùng chỉ đủ bù vào tiền phạt tiến độ hoặc chất lượng công việc.

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 6)

Tìm hiểu về việc tính chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4,          Phần 5

Phần tiếp của Chuỗi bài viết “Làm thế nào để giỏi dự toán” hôm nay, LV sẽ giúp các bạn định hình rõ về Chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng.

Vật liệu cùng với nhân công và Máy thi công là là thành phần chính cấu thành Chi phí xây dựng trong Dự toán. Từ trước đên nay, việc xác định giá vật liệu thường được lấy bằng các cách đơn giản như lấy theo Công bố giá Liên sở Tài chính – Xây dựng, lấy theo Báo giá của nhà cung cấp, của một số website chuyên về báo giá….Tuy nhiên khi mà công trình thi công ở một địa bàn khó khăn (vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng núi cao…) hoặc đó là vật tư mà bắt buộc Nhà thầu phải lấy tại nguồn cấp thì việc tính thêm chi phí vận chuyển vật liệu là hết sức cần thiết.

Hiện nay theo hướng dẫn của Thông tư 04/2010/TT-BXD, việc xác định chi phí vận chuyển vật liệu có thể thực hiện bằng hai cách:

–         Xác định bằng định mức vận chuyển

–         Xác định bằng bảng cước vận chuyển hàng hóa.

Có ý kiến cho rằng, hướng dẫn của Bộ xây dựng vẫn chưa mô tả hết các phương pháp vận chuyển (các phương tiện khác nhau) hay điều kiện vận chuyển (đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng không…). Tuy nhiên, chúng ta tạm bỏ qua các yếu tố đó, tập trung vào việc tính vận chuyển vật liệu theo hai cách trên thì cũng đã có nhiều điều đáng bàn.

Ngoài ra hiện nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn khái niệm “giá vật liệu đến chân công trình” và “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng”. Thực ra chúng khác nhau, ví dụ một công trình giao thông (đường, cầu…) kéo dài qua nhiều địa bàn thì không biết nơi nào là “chân công trình”. Do vậy dùng từ “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng” mới chính xác, ngoài ra nó còn ẩn ý một điều “giá vật liệu bao gồm cả chi phí tại hiện trường (vận chuyển nội bộ công trường, bốc xếp, hao hụt, bảo quản …)

Công thức tính giá vật liệu đến hiện trường được xác định bằng công thức sau (quy định tại Phụ lục số 6, Thông tư 04/2010/TT-BXD):

Gvl = Gcct + Cht   = Gg+ Cvc + Cht

Trong đó :

– Gcct: giá vật liệu đến công trình; Gcct = Gg+ Cvc

– Gg: giá vật liệu gốc;

– Cvc: chi  phí vận chuyển đến công trình (bao gồm cả chi phí trung chuyển, nếu có).

– Cht: chi phí tại hiện trường bao gồm: bốc xếp, vận chuyển trong nội bộ công trình, hao hụt bảo quản tại kho, bãi.

vanchuyenVL

Minh họa các thành phần chi phí trong giá vật liệu.

Một số lưu ý khi tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng các bạn nên chú ý:

1, Khi thực sự thấy cần thiết hãy tính toán các chi phí liên quan đến vận chuyển, chi phí hiện trường bởi việc này khá phức tạp và nhiều khi Chủ đầu tư không duyệt các khoản chi phí này.

2, Nhiều địa phương không ban hành bảng cước vận chuyển vật liệu, hàng hóa bằng ô tô nên việc tính toán gặp nhiều khó khăn. Nhiều Chủ đầu tư chấp nhận áp dụng bảng cước 89 từ năm 2000 tuy nhiên việc điều chỉnh giá cước về hiện tại cũng khá phức tạp.

3, Mặc dù là một thành phần chi phí trong Giá vật liệu, nhưng thực tế chi phí hiện trường ít được tính toán. Lý do bởi trong định mức thường đã có vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m. Các chi phí liên quan đến bảo quản, hao hụt dự trữ… nhà thầu phải chịu trách nhiệm

4, Khi áp dụng bảng cước, lưu ý nhiều chi phí được tính thêm:

+ Hàng bậc 2 được tính bằng 1,1 lần hàng bậc 1; bậc 3 tính thêm 1,3 lần và hàng bậc 4 tính thêm 1,4 lần hàng bậc 1.

+ Xe 3 cầu chạy xăng (đường miền núi khó khăn), xe dưới 4 tấn được cộng thêm 30% cước.

+ Xe có thiết bị tự đổ cộng thêm 15% cước, xe có thiết bị hút xả cộng thêm 20% cước;

+ Các quy định tăng, giảm cước khác theo quy định của các Địa phương.

LV sẽ có bài viết minh họa rõ hơn cách tính Giá vật liệu đến hiện trường bằng bảng cước hàng hóa trong thời gian gần nhất.

Phần tiếp theo: Cách tính chi phí nhân công trong dự toán

Câu hỏi: Những biểu cần in khi lập dự toán

Câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa gửi vào email của LV với nội dung về các phương pháp lập dự toán cũng như các biểu cần in ấn khi lập dự toán.

Nội dung của email như sau:

Trước tiên em xin cảm ơn những chia sẻ hữu ích của anh trên blog, em đang học dự toán và có một số thắc mắc mong Anh bớt chút thời gian giải thích giúp ạ

Thứ nhất: Hiện nay em biết có 2 phương pháp lập dự toán  theo (Đơn giá * Khối lượng)

1.      Lập dt theo đơn giá địa phương và bù trừ chênh lệch

–          Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh

–          Phương pháp bù trừ trục tiếp (bừ trừ bằng lương và giá nhiên liệu năng lượng tại thời điểm lập dự toán)

2.      Lập dt theo đơn giá công trình

3.      Khi chạy bảng dự toán dự thầu

Vậy cho em hỏi giá trị Gxd của 3 bảng trên có bằng nhau không ?

Thứ hai: Các bảng biểu (các sheet) cần in khi lập dự toán theo các pp trên ?

Thứ ba: Ý nghĩa, ưu nhược điểm của từng pp?

Cảm ơn anh nhiều !

 Trả lời:

Trước hết, xin cảm ơn câu hỏi khá hay của bạn, và thay vì trả lời riêng, LV sẽ post câu hỏi lên blog cá nhân để mọi người cùng tham khảo.

LV sẽ trả lời theo đúng thứ tự câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa:

Thứ nhất: Đúng là có 2 phương pháp lập dự toán như bạn nói, bản chất của 2 phương pháp là như nhau, đều phải xác định giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công cho thời điểm hiện tại, sau đó tính thêm các khoản chi phí khác (trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại) theo đúng hướng dẫn trong TT 04/2010-BXD.

Còn Dự toán dự thầu là một trong các Phân loại của Dự toán (chúng ta thường nghe đến Dự toán thiết kế; Dự toán gói thầu; Dự toán dự thầu hay Dự toán thi công).

Nếu các dữ liệu nhập vào để giúp tính toán là như nhau (Bảng giá vật liệu, Chế độ chính sách tiền lương, Giá nhiên liệu, năng lượng) thì kết quả đương nhiên của cả 2 cách tính toán theo Đơn giá địa phương hay Đơn giá công trình sẽ phải bằng nhau. Tương tự giá trị Gxd và Dự thầu là như nhau.

Thứ hai: Các bảng biểu cần in khi lập dự toán theo các PP trên, LV sẽ kê theo thứ tự để bạn tham khảo. Lưu ý:

+ LV chỉ kê cho Tổng hợp chi phí xây dựng để bạn tham khảo

+ Hai phần luôn phải có là Bìa dự toán và Các căn cứ lập dự toán LV sẽ không kê sau đây.

+ Nếu dự toán có nhiều hạng mục thì ta in thêm bảng Tổng hợp giá trị các hạng mục

Phương pháp 1: Lập dự toán theo PP đơn giá địa phương:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+ Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

2, Nếu dùng PP bù trừ trực tiếp (với nhân công và máy thi công), cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu, nhân công, máy thi công  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy điều chỉnh (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

Phương pháp 2: Lập dự toán theo PP đơn giá công trình:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng tổng hợp Dự toán đã cập nhật theo giá công trình (Sheet Gxd)

+ Bảng chạy Đơn giá chi tiết (trong Dự toán GXD là Sheet DGCT XD)

+ Bảng giá trị vật tư (dự toán GXD là Sheet GVT XD)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

DSC_0098

Có nhiều PP lập dự toán nhưng nếu hiểu rõ chúng ta sẽ thấy bản chất các phương pháp đều giống nhau. Ảnh: LV

Với dự toán dự thầu: Bạn phải kiểm tra mẫu yêu cầu của HSMT, thường sẽ phải in các biểu sau đây

Biểu bắt buộc: Bảng tổng hợp giá dự thầu (gồm các hạng mục)

Trong các hạng mục:

Biểu 1: Tổng chi tiết giá dự thầu (Tham khảo Sheet DTDT trong Dự toán GXD)

Biểu 2: Phân tích đơn giá dự thầu (Tham khảo Sheet DGCT trong Dự toán GXD)

Biểu 3: Bảng tính đơn giá vật liệu trong Dự toán dự thầu (Tham khảo Sheet VLHT hoặc GVT trong Dự toán GXD)

Với dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như trong dự toán, tuy nhiên ta không cần in ấn hết như trên do mẫu đã quy định, hơn nữa khi chấm thầu người ta sẽ kiểm tra file gửi kèm của Nhà thầu.

Thứ ba: Ưu nhược điểm của từng phương pháp

Các phương pháp có kết quả như nhau, với PP đơn giá địa phương ở miền Bắc hay áp dụng thì nó thành tiền lệ, cũng do các phần mềm dự toán truyền thống (Acitt, G8…) vẫn hay áp dụng cách này. Ưu điểm của các này là rất nhanh nếu đủ các dữ liệu như Đơn giá địa phương và các văn bản điều chỉnh hệ số dự toán. Tuy nhiên nếu không đủ các dữ liệu được địa phương công bố hoặc ban hành thì việc tính toán trở nên khó khăn.

Với PP lập đơn giá dự toán công trình, ta hình dung công trình ở đâu tính toán ở đó, và ta chỉ cần nắm được giá vật liệu, nhiên liệu năng lượng cũng như chế độ chính sách về tiền lương, phụ cấp ở khu vực đó thì sẽ giúp tính toán nhanh chóng. Ở Miền Nam các phần mềm hướng theo cách này, và nó cũng trở thành tiền lệ.

Với Dự toán dự thầu, chúng ta bắt buộc phải tuân theo hồ sơ Mời thầu hoặc Yêu cầu, do vậy không có sự lựa chọn mà chúng ta phải làm theo mẫu. Tuy nhiên cũng phải lưu ý, với Dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như đã nêu ở trên.

Vấn đề thanh toán các công việc liên quan đục lỗ chờ lắp đường ống

Một bạn có tên Hà có email eyenight….@yahoo.com ở Hà Nội, đang công tác ở vai Chủ đầu tư có gửi mail hỏi một số câu hỏi liên quan đến việc thanh toán chi phí cho công tác thi công phần đường ống cấp thoát nước của Nhà thầu. Lê Vinh trên quan điểm hiểu biết sơ bộ về lĩnh vực này, xin được đưa ra một số ý kiến cá nhân và phản hồi lại cho bạn đó tham khảo. Tiện post lên blog để mọi người có thể đọc, thảo luận thêm.

Hỏi:
1, Việc khoan lỗ để lắp các ống thoát nước chậu rửa, thoát xí, máy giặt… có được tính riêng cho nhà thầu không? (Việc này nhà thầu xây dựng phải đặt sẵn lỗ chờ hay là nhà thầu cấp thoát nước phải đục sau khi vào thi công?)

Trả lời:Nguyên tắc là Nhà thầu làm theo đúng hồ sơ thiết kế đã nêu trong hợp đồng (hồ sơ mời thầu). Trong hồ sơ thiết kế đầy đủ bao giờ cũng phải có các lỗ chờ để phục vụ thi công lắp đặt thiết bị vệ sinh, đường ống. Có thể lúc thi công phần thân thô chưa có Hồ sơ thiết kế phần điện nước thì Chủ đầu tư phải chấp nhận trả thêm phần chi phí này cho các công việc phát sinh liên quan đến khoan, đục lỗ.

Mặt khác có thể nhìn thấy rõ, trong Định mức các công tác lắp ống thoát nước không có công tác khoan bê tông.

Do vậy, nếu có các công tác đó ta phân ra 2 trường hợp:

+ Có trong hồ sơ thiết kế ban đầu, nhưng Nhà thầu thi công bê tông không trừ lỗ thì họ phải khoan đục vì họ làm chưa đúng hồ sơ thiết kế.

+ Không có trong hồ sơ thiết kế ban đầu mà bổ sung ở phần điện-nước sau khi đã thi công phần thô thì Chủ đầu tư phải mất thêm chi phí cho công tác khoan đục.

DSC_0154

Hệ thống đường ống thoát nước thải trong công trình. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
2, Việc thử áp lực và thử kín đường ống cấp thoát nước có được tính thêm cho nhà thầu không? Theo mình thì việc thử này là nằm trong BPTC của nhà thầu, nhà thầu phải có trách nhiệm thi công đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho CĐT nghiệm thu nên không được tính.

Trả lời:

Nhà thầu chỉ thi công đúng các công tác để hoàn chỉnh theo đúng hồ sơ thiết kế nêu trong hợp đồng. Việc thí nghiệm vật liệu trước khi thi công thuộc về trách nhiệm của Nhà thầu (để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán (HSCL)). Đối với các thí nghiệm hiệu chỉnh theo yêu cầu của Chủ đầu tư thì Chủ đầu tư phải mất thêm phí (Thuộc về Chi phí lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh trong Gtb).

Vậy với công tác thử kín đường ống cấp nước, phải xem lại:

+ Trong BPTC Nhà thầu có mô tả không, TCVN về công tác đó có yêu cầu không

+ Trong Đơn giá họ chào có việc đó không

Nếu có Nhà thầu phải chịu đơn giá đó

Trường hợp không có thì đương nhiên là yêu cầu riêng của Chủ đầu tư và Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí này.

Phản hồi: Ảnh Trần Ngọc Hải (SG) có phản hồi về vấn đề này như sau, LV post lên đây các bạn tham khảo:

Các nút bịt chỉ là biện pháp thi công của nhà thầu để khỏi tắc đường ống. Cái chủ đầu tư nghiệm thu là chất lượng, kỹ thuật chứ không nghiệm thu biện pháp của nhà thầu

Việc thử áp lực hay kín là trách nhiệm của nhà thầu để cdt nghiệm thu chất lượng. Ví dụ công tác bê tông ngoài nghiệm thu bê tông đổ tại chỗ đạt ra còn phải quan tâm đến thẩm mĩ, chất lượng như bê tông rỗ hay không, phù hay không. Chẳng Chủ đầu tư nào bỏ tiền đi bịt lỗ rỗng bê tông hay đi mài cạnh khi đã nghiệm thu công tác đổ bê tông

chungcuHNlevinhxd

Chung cư Linh Đàm – Hà Nội. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
3, Các nút bịt để phục vụ BPTC thử kín, thủ áp lực và bảo vệ không cho rác thải chui vào đường ống cấp thoát nước có được tính không?

4, Định mức lắp đặt ống nước đã bao gồm việc đục tường, sàn để đi ngầm ống chưa? (Theo mình thì chưa. nhưng từ xưa đến giờ chả thấy ai tính đến việc này cả?)

Trả lời:

Những vật liệu không có trong Định mức của các công tác lắp đặt đường ống và các phụ kiện đường ống thì phải tính riêng, trường hợp này chắc chắn Nhà thầu được tính riêng.

Lời khuyên: Với các công tác cụ thể, bạn cần mở Định mức 1776, 1777 ra xem công tác đó được mô tả gồm những việc gì, đã bao gồm hoặc chưa có những việc gì (đọc kỹ cả phần thuyết minh và các thành phần vật liệu, máy thi công)… Ví dụ như công tác lắp đặt đường ống nước thì chưa bao gồm việc đục tường, sàn để đi đường ống, nhưng công tác lắp đặt ruột gà, bảo ôn thì lại đã gồm việc đục, trát phẳng…

Chúc anh thành công trong công việc!

Thân chào!

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 5)

Phần 5:Lập dự toán theo PP đơn giá tại công trình: Hiểu sâu về bản chất của dự toán!

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4

Định nghĩa: Đơn giá công trình là Đơn giá mà người lập dự toán tự xây dựng từ Định mức và các đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại công trình đó ở thời điểm lập dự toán (thay vì dùng Đơn giá địa phương và bù giá).

Để hiểu hơn về PP này, bây giờ bạn hãy làm một ví dụ đơn giản: Bố mẹ bạn chuẩn bị làm nhà 3 tầng, và bảo bạn hãy tính thử 1 bức tường xây cao 3,5m, rộng 4m, có cửa sổ 1,5*1,5m, xây tường 220 (vữa XM mác 50) thì tính ra bao nhiêu tiền?

Trước hết ta tính khối lượng:

+ Xây cần tính ra m3, vì đơn vị tính công tác xây trong Đm là 1m3

+ KL xây: 3,5*4*0,22 – 1,5*1,5*0,22 = 2,585m3

Tiếp theo ta tìm cách tính 1m3 xây bao nhiêu tiền?

Nếu ở quê, ta hay đi hỏi bác thợ xây xem 1m3 xây bao nhiêu gạch, bao nhiêu xi, bao nhiêu cát, nước… rồi tính nhẩm sẽ ra cơ bản. Nhưng với dự toán, ta cần tính chính xác theo đúng các quy định. Vậy với 1m3 xây, trước hết ta đi tra Định mức 1776 ta được mã hiệu AE.22220 phù hợp với mã hiệu ta cần tra:

HD3

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, Mã AE.2xxxx

Tiếp tục tra cứu ĐM 1776 để xem 1m3 vữa xây xi măng cát mịn, Mác 50, định mức cấp phối vữa như thế nào:

HD4

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, phần cấp phối vữa xây

Nhìn vào định mức ta có thể thấy, để xây 1m3 gạch cần các hao phí như sau:

Vật liệu:

+ Gạch 550 viên; Xi măng: 230,02*0,29 = 66,7 kg; Cát xây: 1,12*0,29=0,3248 kg

+ Vật liệu khác: nước: 220*0,29=75,4 lít (quy định trong ĐM), vật liệu khác: 6% VL chính

Nhân công: Nhân công 3,5/7 là 1,97 công

Máy thi công: Máy trộn vữa 80L: 0,036 ca; Vận thăng: 0,04 ca; Máy khác: 0,5%

Bằng cách lắp giá các vật tư, vật liệu mà ta khảo sát được trên thị trường ta sẽ lập được ngay bảng tính 1m3 khối xây. Lưu ý, phải tính các chi phí đuôi theo đúng quy định của Thông tư 04/2010:

HD5

Bảng tính 1m3 công tác xây tường 220, vữa XM mác 50

Vậy không dùng phần mềm, không dùng đơn giá địa phương, chúng ta vẫn tính được kết quả 1m3 khối xây với đầy đủ các chi phí vào khoảng 1,7 -1,8 triệu đồng

Đơn giá cho 1 bức tường xây mô tả ở trên sẽ là: 1,778 triệu đ/m3 * 2,585 m3 = 4,596 triệu đồng.

Lưu ý: Nếu dùng PM dự toán GXD hoặc Dự thầu GXD, các bạn sẽ rất nhanh chóng chỉ mất 1-2 phút tính toán với bài tập trên

Bản chất của Lập dự toán theo PP đơn giá công trình là như vậy. Chúng ta có định mức, khảo đơn giá thị trường hoặc với đơn giá nhân công, giá ca máy thì tính toán theo đúng hướng dẫn của Nhà nước sẽ dễ dàng tính được đơn giá của một công tác mà không cần dùng đến đơn giá địa phương.

Lưu ý: Địa phương muốn lập được đơn giá họ cũng làm theo cách như LV vừa hướng dẫn.

Để rõ hơn về PP lập đơn giá công trình, mời các bạn tiếp tục xem lại tài liệu “Các bước thực hành trên phần mềm dự toán GXD” – Phần 2, PP đơn giá công trình.

Xem tài liệu tại đây

DSC_0104

Mỗi công trình có một đặc điểm riêng về thị trường, việc tính toán đơn giá công trình là hợp lý. Ảnh: Chung cư huyndai hillstate (Chụp: LV)

Phần tiếp: Cách tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 4)

Lập dự toán bằng Phương pháp sử dụng đơn giá địa phương

(Hiểu bản chất của lập dự toán bằng PP đơn giá địa phương)

Trước hết các bạn phải hiểu vì sao gọi là Đơn giá địa phương: Đơn giá do các Tỉnh, Thành phố ban hành ra ở một thời điểm nào đó kèm theo Quyết định công bố được gọi là đơn giá địa phương. Ví dụ:

+ Đơn giá số 56 Hà Nội năm 2008 (Đã được thay thế)

+ Đơn giá xây dựng 5481 năm 2011 của Hà Nội

Đơn giá được công bố thường được xây dựng trên cơ sở định mức đã được Bộ Xây dựng ban hành (ngoại trừ một số Bộ ngành khác công bố định mức và công bố luôn đơn giá). Do vậy, thường các địa phương có kết cấu đơn giá giống nhau, nhưng số liệu đơn giá lại khác nhau do đơn giá Vật liệu, Nhân công, Máy thi công ở mỗi nơi một khác nhau.

Vậy thì muốn tính dự toán cho 1 công tác nào đó, cách làm của chúng ta vẫn là:

Đơn giá công tác = Khối lượng * Đơn giá

abc

Phương pháp lập dự toán phổ biến nhất: Khối lượng nhân với Đơn giá

Trong đó khối lượng xác định từ bản vẽ và Đơn giá lấy theo đơn giá địa phương

Tuy nhiên Đơn giá thường được ban hành từ một thời điểm nào đó (ví dụ Đơn giá HN 2011 ban hành tháng 11/2011), và thường sẽ là đơn giá không đầy đủ (chưa tính đuôi chi phí gồm trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại). Như vậy khi sử dụng đơn giá địa phương ta phải làm 2 việc sau:

+ Điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại

+ Tính các chi phí đuôi để có một đơn giá đầy đủ

Để điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại người ta thường phải bù các yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công bằng cách phương pháp như là bù trừ trực tiếp (tính chênh lệch) hoặc nhân hệ số điều chỉnh (Kđ/c)

A-1

Trích đơn giá xây dựng 5481 Hà Nội ban hành năm 2011

 Ví dụ: Tính toán đơn giá của 10m3 bê tông cột mác 250, ta làm như sau:

+ Mở đơn giá HN 2011 ra, trang 160 có đơn giá bê tông cột (như minh họa hình trên)

Cách 1: Lấy giá trị 1.801.480 nhân với đơn giá 10 sẽ có ngay giá trị: 18.014.800 đồng

Tuy nhiên cách này chỉ tính đơn đơn giá tổng hợp cho bê tông cột tại thời điểm ban hành đơn giá (tháng 11/2011), muốn tính thời điểm này là khó do chúng ta không rõ trong 1.801.480 kia gồm những đơn giá cụ thể gì?

Cách 2: Tính toán cho từng giá trị theo giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công rồi tính thêm các phần chi phí đuôi:

Đơn giá 10m3 bê tông = 10*[(VL+NC+MTC)+TT+C+TL+VAT+Gxdnt]

= 10*[(758.902+974.354+67.224)*1,025*1,065*1,055*1,1*1,01]

Giải thích cách tính: 1,025 ; 1,065; 1,055; 1,1; 1,01 lần lượt là phần tính thêm của 2,5% trực tiếp phí khác; 6,5% chi phí chung; 5,5% thu nhập chịu thuế tính trước; 10% thuế GTGT và 1% chi phí xây dựng nhà tạm của công trình dân dụng.

Với cách tính chi tiết này, chúng ta sẽ có các công cụ PM dự toán giúp phân tích chi tiết xem trong các giá trị VL = 758.902, NC=974.354, MTC=67.224 mà Hà Nội ban hành ở trên gồm những vật tư cụ thể gì, khối lượng định mức là bao nhiêu từ đó tính toán điều chỉnh dự toán về thời điểm hiện tại.

Hầu hết mọi phần mềm dự toán đều dùng cách 2, nguyên lý là Điều chỉnh giá trị Vật liệu, Nhân công, Máy thi công về thời điểm hiện tại và Tính thêm các chi phí đuôi. Và để lập dự toán nhanh, chúng ta cần sử dụng các phần mềm dự toán, bởi các dữ liệu đã được mã hóa, giúp việc tra cứu và thao tác trở nên nhanh chóng, thuận tiện.

Để rõ hơn, các bạn đọc tài liệu “Các bước thực hành dự toán trên phần mềm GXD” – Phần hướng dẫn theo đơn giá địa phương.

Xem tài liệu tại đây

Phần tiếp: Cách lập dự toán sử dụng định mức công bố và đơn giá vật tư tự xác định (PP đơn giá công trình)

Thắc mắc dự toán: Các vấn đề về đào, đắp, vận chuyển đất (phần 1)

Câu hỏi 1: Khi lập dự toán đào đất, khối lượng đào lên và khối lượng chuyển đi đổ tính theo khối nguyên thổ hay khối rời?

Trả lời: Tham khảo Thuyết minh chương II (Công tác đào đắp đất, đá, cát), Bộ Xây dựng đã hướng dẫn rất rõ ràng:

+ Định mức đào đất tính cho khối lượng đất đào đo tại nơi đào (tức tính khối nguyên thổ)

+ Định mức vận chuyển tính cho 1m3 đo tại nơi đào và đã tính đến hệ số nở rời của đất.

Trường hợp tính khối lượng vận chuyển nhiều bạn thắc mắc, đất đào lên sẽ tơi ra (nở rời), tại sao vận chuyển vẫn tính 1m3. Các bạn đọc phần hướng dẫn kỹ sẽ thấy, “Định mức vận chuyển đã tính đến hệ số nở rời của đất”. Ví dụ trong Định mức vận chuyển 100m3 đất cấp II bằng ô tô tự đổ hết 1,330 ca, thì trong con số 1,330 này đã nhân thêm hệ số nở rời của đất.

Câu hỏi 2: Khi lập dự toán, chọn tổ hợp máy đào đất và ô tô vận chuyển như thế nào cho phù hợp

Trả lời: Chọn máy đào dung tích bao nhiêu m3 hay ô tô bao nhiêu tấn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đào ít hay đào nhiều, mặt bằng hay vị trí thi công có thuận lợi hay không và quan trọng nhất là dung tích máy đào + cự ly vận chuyển… Khi lập dự toán nếu làm chuẩn thì phải tuân theo TCVN 4447:1987 chứ không thể do người lập tự “bốc thuốc” được

Các bạn có thể tham khảo các văn bản sau để rõ hơn về tổ hợp máy đào:

1, Nếu chọn tổ hợp máy đào các bạn tham khảo bảng 11 (mục 3.78) trang 20 TCVN 4447:1987
2, Nếu chọn ô tô vận chuyển các bạn tham khảo bảng 12 (mục 3.82) trang 20 và bảng 13 trang 20 TCVN 4447:1987

3, Sự tương ứng giữa ô tô vận chuyển và máy đào nên tham khảo phần Ghi chú sau mã hiệu AB.4xxxx (Định mức 1776, khoảng trang 57)

excavation-900-650

Lập dự toán đào đất phải theo biện pháp thi công với tổ hợp máy đào – ô tô phù hợp. Ảnh: inernet

Câu hỏi 3: Có ý kiến cho rằng, trong công tác đào đất bằng máy, đã có công tác đào thủ công, điều này đúng hay sai, tỷ lệ thủ công trong đó là bao nhiêu nếu điều đó đúng?

Trả lời:

Ý kiến này hoàn toàn đúng, các bạn có thể tham khảo một định mức đào đất bằng máy sẽ thấy việc đào đất bao gồm cả máy và thủ công trong đó:

HD5

Định mức đào đất móng bằng máy đào <= 0,8m3

Trong hình  ở trên, rõ ràng để đào 100m3 đất ta cần dùng một khối lượng nhân công đi kèm khá lớn, đất có cấp càng cao (cứng hơn) thì hao phí nhân công càng lớn..

Còn muốn biết đào đất thủ công chiếm bao nhiêu % trong này có thể làm một phép so sánh tính toán tương đối như sau:

+ Tra mã hiệu đào đất thủ công (AB.113xx) chẳng hạn, sẽ thấy đào đất thủ công đất cấp II cần khoảng 1 công/1m3. Vậy với 6,11 công khi đào 100m3 đất ở hình ở trên, so sánh tương đương sẽ thấy 100m3 chiếm mất 6,11% đào thủ công.

Câu hỏi 4: Căn cứ nào để lấy tỷ lệ đào đất bằng máy là bao nhiêu, đào thủ công là bao nhiêu khi thi công công tác đất?

Trả lời:

Tỷ lệ đào máy hay thủ công bao nhiêu hoàn toàn phải căn cứ vào điều kiện tổ chức biện pháp thi công. Có những móng nhà có thể đào máy đến 95-96%, tuy nhiên có móng nhà ngược lại, chỉ có thể đào thủ công (do máy không vào được), do vậy không có văn bản nào quy định về tỷ lệ này.

Khi lập dự toán, người lập có thể ước lượng tỷ lệ này là 90% đào máy và 10%, đây hoàn toàn là con số tạm tính theo thói quen

Dao-thucong

Đào đất bằng thủ công. Ảnh: Internet

Lập luận chứng minh: Tra mã hiệu dự toán theo chiều cao công trình là đúng!

Trong bài viết “Lập dự toán theo chiều cao công trình”, hẳn nhiều bạn vẫn chưa thấy thuyết phục khi mà công việc ở tầng thấp lại có thể đồng giá với công việc trên tầng cao. Cũng có bạn thắc mắc tại một công văn của Vụ kinh tế xây dựng năm 2010, trả lời doanh nghiệp rằng việc lập dự toán phải chia theo chiều cao công việc. Nay Lê Vĩnh xin được post lại lập luận chứng minh đã chia sẻ trên diễn đàn Giá xây dựng cách đây 2 năm về vấn đề này.

Giả sử ta có công tác thép chủ cột D<=18 cho tòa nhà 18 tầng cao 60m, Có 2 phương án:
1, Chia các công tác theo độ cao, Tra thành 5 mã hiệu: AF.61421 (<=4m), AF.61422(<=16m), AF.61423(<=50m), AF.61424(>50m)
2, Không phân chia độ cao, tất cả các mã tra 1 mã hiệu duy nhất: AF.61424(>50m)
Trước khi chứng minh phương án 2 đúng, ta hãy nhớ: Định mức của chúng ta là Định mức Kinh tế – Kỹ Thuật

Xét về kinh tế, có vẻ như việc chia các mã hiệu theo chiều cao công việc là phù hợp, vì càng lên cao thi công càng khó và giá càng phải đắt hơn. Tuy nhiên xét về kỹ thuật thi công thì không đúng như vậy
Nếu ta tra theo phương án 1, Ta sẽ có biện pháp thi công như sau:
– Tầng 1 (dưới 4m) ta không cần máy móc để vận chuyển lên cao, công nhân tự vận chuyển và dựng thép lên. Tương tự với các công tác khác, chỉ cần giàn giáo làm thiết bị thi công là đủ.
– Từ tầng 2 đến tầng 4 (từ 4 đến 16m): Ta phải lắp thêm một vận thăng loại nhỏ, theo ĐM là Vận thăng 0,8T để vận chuyển thép lên phục vụ thi công
– Từ tầng 5 đến tầng 16 (Từ 16 đến 50m): Ta gỡ bỏ vận thăng 0,8T, làm móng và lắp vận thăng loại to hơn, chính là vận thăng lồng loại 3T. Tiếp tục làm móng và lắp cần trục tháp loại 25T để phục vụ việc vận chuyển người và vật liệu lên cao.
– Từ tầng 16 trở lên (Trên 50m): Vì thi công cao hơn, khó hơn, ta tháo dỡ cần trục tháp 25T đã lắp trước đó để lắp cần trục tháp to hơn có công suất 40T, đương nhiên phải làm lại móng mới vì cần trục tháp này yêu cầu móng to và vững hơn

 Ảnh

Hình ảnh minh họa việc thi công theo chiều cao nếu chia theo độ cao trong Định mức

Nhận xét: Nếu áp dụng theo biện pháp thi công như đã nêu trên, ta sẽ đưa tất cả các máy móc thiết bí vào thì công công trình (dưới thấp thì dùng máy nhỏ, lên cao huy động máy to). Trên thực tế, nếu thi công nhà cao tầng, ngay từ khi thi công tầng 1 tầng 2 nhà thầu đã phải chủ động lắp ngay cần trục tháp loại lớn, tức là dù chưa dùng nhiều đến cần trục tháp hay vận thăng lồng nhưng đơn giá của các máy móc thiết bị này đã được tính ngay vào công trình. Suy ra ta hiểu rằng, Nhà cao tầng thì mọi đơn giá từ tầng thấp lên tầng cao phải có đơn giá cao hơn so với thi công nhà thấp tầng (vì công nghệ biện pháp thi công tốn kém hơn).

Lập luận theo Định mức: Các bạn thử dùng PM Dự toán, tra 2 phương án trên, chỉ cho công tác thép nói trên thôi nhé, phân tích và tổng hợp vật tư sẽ thấy:
– Tầng 1 (dưới 4m) : Chẳng có máy móc gì cả
– Từ tầng 2 đến tầng 4 (từ 4 đến 16m): Dùng vận thăng 0,8T
– Từ tầng 5 đến tầng 16 (Từ 16 đến 50m): Vận thăng 3T, cần trục 25T
– Từ tầng 16 trở lên (Trên 50m): Vận thăng 3T, cần trục 40T
Như vậy bản chất không đúng với thực tế, vì khi đó trong dự toán của các bạn sẽ có đủ tất cả các máy móc từ vận thăng 0,8T, vận thăng 3T, cần trục 25T, cần trục 40T chỉ để thi công thép cột D<18. Trong thực tế, thi công ở độ cao nào, với nhà cao trên 50m, chúng ta chỉ dùng vận thăng 0,3T và cần trục tháp 40T.

Kết luận: Việc chia mã hiệu theo chiều cao công việc trong khi lập dự toán là hoàn toàn không phù hợp với biện pháp thi công cũng như yếu tố kinh tế.