Bàn về sự thay đổi các khoản mục chi phí theo quy định tại Nghị định 32-2015

Nghị định 32/2015 của Chính phủ vừa được ban hành thay thế cho Nghị định 112/2009 về hướng dẫn quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, các quy định này có thể sẽ được cụ thể hóa hơn khi nó có hiệu lực từ ngày 10/5/2015 và đặc biệt khi có Thông tư hướng dẫn lập và quản lý chi phí thay cho thông tư 04/2010 ra đời. Tuy nhiên có nhiều thay đổi mà có lẽ chúng ta nên bàn từ bây giờ, LV vừa nghiên cứu qua Nghị định và có một vài ý kiến đánh giá như sau:

CÁC KHOẢN MỤC CHI PHÍ TRONG TỔNG MỨC ĐẦU TƯ

  1. Chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư nay đã nêu rõ có thể bao gồm chi phí chỉ trả hạ tầng kỹ thuật đã được xây dựng thay vì trước đây nêu chung chung “chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật” (nêu chung chung như NĐ112 dễ hiểu lầm Cp xây dựng hạ tầng kỹ thuật thuộc CP về đất, thực ra chi phí này chỉ thuộc về tiền đất khi Chủ đầu tư đó mua lại một dự án và tiến hành đầu tư thứ phát (đầu tư trên đất đã có hạ tầng)
  2. Chi phí xây dựng nay đã bỏ cụm từ “chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công” có người sẽ hiểu là vì cụm từ này thừa, chính là công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công. Tuy nhiên ta sẽ thấy nó xuất hiện trong Chi phí khác (bàn ở mục 4 dưới đây)
  3. Chi phí quản lý dự án nay đã không bao gồm chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư. Thực ra chi phí này theo một văn bản trước đây đã hướng dẫn bằng khoảng 20% chi phí quản lý dự án (Thông tư 22/2010 Bộ kế hoạch đầu tư hướng dẫn Nghị định 113/2009 của Chính phủ), do vậy NĐ 32 đã tách chi phí này ra khỏi chi phí quản lý dự án là phù hợp. Tuy nhiên cũng cần bàn thêm là chi phí giám sát dự án đầu tư sẽ tính vào đâu trong TMĐT, vì việc giám sát, đánh giá dự án đầu tư với công trình vốn ngân sách Nhà nước là khá quan trọng và có tính bắt buộc.
  4. Chi phí khác có một thay đổi đột biến so với trước đây khi xuất hiện hàng loạt chi phí dường như sẽ nằm trong chi phí trực tiếp khác hoặc chi phí chung của Chi phí xây dựng. Cụt thể tại điểm đ, điều 8 có nhắc đến chi phí khác gồm:
  • Chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
  • Chi phí vận chuyển lực lượng lao động và thiết bị đi và đến công trường
  • Chi phí an toàn lao động, đảm bảo an toàn giao thông
  • Chi phí hoàn trả hạ tầng kỹ thuật do thi công gây ra
  • Ch phí thí nghiệm vật liệu của nhà thầu
  1. Cần thêm nói thêm một khoản chi phí cần lưu tâm là Lãi vay trong thời gian thực hiện xây dựng không được nhắc đến, có nghĩa ta sẽ tính vào Chi phí khác, tuy nhiên theo ý kiến cá nhân LV, nếu nó được tách riêng ra sẽ dễ dàng cho việc tính các chi phí như CP dự phòng, tính chính nó (CP lãi vay) và tính kế hoạch vốn

 

Chi phí an toàn lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường từ nay không còn nằm trong CP xây dựng. Ảnh: LV

Chi phí an toàn lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường từ nay không còn nằm trong CP xây dựng. Ảnh: LV

CÁC KHOẢN MỤC CHI PHÍ TRONG DỰ TOÁN

  1. Chi phí xây dựng sẽ gồm CP trực tiếp, Cp chung, Thu nhập chịu thuế tính trước, Thuế VAT. Chúng ta sẽ không còn thấy CP nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công và CP trực tiếp khác trong CP xây dựng (bây giờ được chuyển sang thuộc CP khác). Tuy nhiên Nhà thầu sẽ chào thầu khoản mục chi phí này như thế nào, thanh toán như thế nào cũng là một vấn đề cần bàn trong thời gian tới.
  2. Chi phí thiết bị cơ bản không có gì thay đổi, tuy nhiên khoản mục Chi phí lắp đặt thiết bị sẽ ảnh hưởng bởi cách tính giống như Chi phí xây dựng ở trên.
  3. Chi phí khác trong Dự toán cũng cơ bản giống như Chi phí khác trong TMĐT, tuy nhiên ta luôn phải lưu ý nhiều khoản mục chi phí đã tính trong TMĐT thì không còn trong Dự toán (ví dụ chi phí bảo hiểm, đo lún, kiểm toán, rà phá bom mìn, kinh doanh….)

ĐIỂM THAY ĐỔI LỚN ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÓI QUEN NGƯỜI LẬP DỰ TOÁN:

  1. Chi phí xây dựng, Chi phí lắp đặt thiết bị sẽ không bao gồm Cp nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công, Chi phí trực tiếp khác;
  2. Các phần mềm Dự toán có thể sẽ cập nhật cách tính Chi phí hạng mục chung và Chi phí khác để giúp tính toán các chi phí như an toàn lao động, thí nghiệm vật liệu, bơm nước vét bùn không thường xuyên, .. hy vọng là Bộ xây dựng sẽ ban hành định mức theo tỷ lệ % để tính toán cho dễ.
  3. Như mục 2 ở trên thì Chi phí khác sẽ bao gồm nhiều chi phí mà Nhà thầu được hưởng trong quá trình xây dựng, thay vì trước đây Chi phí khác hoàn toàn thuộc về các khoản chi phí của Chủ đầu tư sử dụng độc lập vào các công việc khác trong dự án. Do vậy các phần mềm dự toán cũng cần tích hợp cách tính toán phù hợp để có thể đưa luôn vào đơn giá dự thầu cho các Nhà thầu.

Mời các bạn tham khảo thêm:

Nghị định 32-2015: Link tải trên trang thông tin Chính phủ

So sánh Nghị định 112 -2009 và Nghị định 32-2015 trên trang Giá xây dựng của Tác giả Nguyễn Thế Anh

Advertisements

Ví dụ cách tính dự phòng trong dự toán (theo Năm)

Cách tính Dự phòng cho công trình lớn, có thời gian thi công dài

Bài toán: Tính toán cho công trình nhà cao tầng có tổng dự toán khoảng 202,7 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 năm

Trong đó:

–         Chi phí xây dựng: 160 tỷ đồng

–         Chi phí thiết bị: 20 tỷ đồng

–         Chi phí quản lý dự án: 2,7 tỷ đồng

–         Chi phí tư vấn: 10 tỷ đồng

–         Chi phí khác: 10 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 3 tỷ đồng

Tổng dự phòng trước trượt giá là VT = 202,7 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 10,135 tỷ đồng

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2 – T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 năm);

– t: số thứ tự năm phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

– Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t;

Ở đây giả sử kế hoạch vốn năm thứ nhất là 40% (V1= 81,08 tỷ đồng); năm thứ 2 là 60% (V2=121,62 tỷ đồng). Lưu ý nếu có bảng tính toán các chi phí cụ thể thì các số liệu V1, V2 phải phù hợp với bảng kế hoạch nguồn vốn đã viết trong bảng tính toán dự án.

– LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong năm thứ t.

Untitled3
– IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 năm gần nhất so với thời điểm tính toán

Untitled4
Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, vậy để tính toán bạn có thể chọn các thời điểm Quý, Năm gần nhất để tính toán. Ở đây Lê Vinh lựa chọn tính toán cho 3 năm gần nhất, và lấy các thông số chỉ số giá xây dựng của các năm để nhập vào, riêng năm 2013 do chưa có chỉ số giá xây dựng của cả năm nên chỉ lấy Quý III/2013.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta dễ dàng nhận ra chỉ số giá giữa năm 2011 và năm 2010 tăng đến 30,85%, trong khi năm 2012 so với 2011 và 2013 so với 2012 đều có chỉ số giảm (lần lượt khoảng -0,6% và -1,6%). Tổng lại,  mức trung bình 3 năm vẫn có mức tăng khoảng 9,6%/năm. Theo hướng dẫn Thông tư 04/2010, những năm có đột biến giá thì phải bỏ qua, cụ thể ở đây năm 2011 so với năm 2010 rõ ràng có sự đột biến quá lớn, phản ánh đúng thị trường bất động sản và xây dựng thời kỳ đó, một thời kỳ tăng nóng. Nếu tính toán chuẩn xác thì chúng ta nên bỏ qua so sánh 2 năm này, và khi đó cần lùi các chỉ số tính toán về các thời kỳ trước. Tuy nhiên chúng ta sẽ phải lùi rất xa về các năm 2007, 2006 thì mới chuẩn xác được, bởi giai đoạn 2008-2011 là một giai đoạn lạm phát rất mạnh. Bởi lý do đó, Lê Vinh quyết định vẫn để nguyên tính toán năm 2011 so với năm 2010, và kết quả tính toán sẽ bù lại cho giai đoạn giảm phát về sau (2012, 2013), đồng thời ta có thể cân đối kết quả tính cuối cùng bằng cách điều chỉnh chỉ số biến động dự báo

ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là -2%/năm. Thực ra chẳng có căn cứ nào cụ thể để bảo vệ con số này cả, tuy nhiên để dự báo chỉ số giá xây dựng 3 năm vừa rồi thì thấy Năm 2013 này có mức trượt giá xây dựng so với Năm 2011 âm là hợp lý, cụ thể giá vật liệu, nhân công và máy thi công đều có xu hướng giảm. Và dự báo 2 năm tới 2014, 2014 chính phủ vẫn kiềm chế lạm phát, thị trường bất động sản chưa thể khởi sắc đột biến được, do vậy việc cân đối kết quả tính toán làm sao mức dự phòng phí cuối cùng ở mức khoảng 5-6% là hợp lý (thay vì gần 10% như Ixdbq đã tính ra).

 Untitled5

GDP = GDP1 + GDP2 = 35.209.449.921 đồng  (Tương đương khoảng 17%)

Tải file đính kèm: 

Hướng dẫn cụ thể

File ví dụ đính kèm

Kinh nghiệm rút ra khi tính Chi phí dự phòng trượt giá:

+ Khi tính toán, rõ ràng Gdp2 (dự phòng trượt giá) phụ thuộc rất nhiều ở chỉ số giá xây dựng 3 năm (3 quý) gần nhất. Hay nói cách khác, dự phòng trượt giá phụ thuộc vào mức biến động thị trường ở thời điểm gần đây, do vậy cũng cần có thêm sự tư duy định hướng mang tính dự báo cho các năm tiếp theo. Sự dự báo này cần sự cập nhật thêm các tin tức điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ, của ngành Xây dựng.

+ Các chỉ số giá xây dựng tìm kiếm ở trên mạng internet được nhiều trang chia sẻ, tuy nhiên người lập dự toán cũng có thể bị nhầm lẫn  các nội dung, ví dụ như công trình gì, địa bàn ở đâu, quý hay năm, công trình cao bao nhiêu tầng. Do vậy cần có sự xem xét, chọn lọc kỹ lưỡng trước khi áp dụng.

+ Lưu ý kể từ năm 2012 đến nay, hầu hết các tỉnh đều đã ban hành chỉ số giá xây dựng (thay cho trước đây Bộ xây dựng công bố). Do vậy việc cập nhật, tìm kiếm các văn bản công bố liên quan đến địa phương nơi mình đang lập dự toán cũng là một vấn đề cần lưu tâm.

+ Mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính.  thực ra là một chỉ số rất khó xác định, phụ thuộc vào cảm tính chủ quan của người lập dự toán. Hầu hết các nhà tư vấn khi tính toán đều để bằng 0, tuy nhiên theo Lê Vinh, có thể dùng chỉ số này để cân bằng kết quả tính toán cuối cùng.

+ Thực ra chúng ta hoàn toàn có thể “bốc thuốc” kết quả tính Gdp2, bởi yếu tô này hoàn toàn mang tính dự đoán theo thị trường. Do vậy, qua việc xem xét chỉ số giá xây dựng, thậm chí là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được cập nhật liên tục trên các phương tiện đài báo thì việc dự báo Gdp2 cũng không quá khó. Ví dụ, 2 năm vừa rồi, mức trượt giá tiêu dùng CPI ở mức khoảng 6,5%/năm, do vậy dự báo trượt giá cho ngành xây dựng trong những năm tới có thể ở mức 6-6,5% /nămlà khá an toàn.

+ Lê Vinh cũng thống kê ra đây chỉ số giá CPI của 10 năm qua để các bạn tiện theo dõi: Năm 2004 tăng: 9,5%; năm 2005: 8,4%; năm 2006: 6,6%; năm 2007: 12,63%; năm 2008: 19,89%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%; năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%. Trung bình 10 năm qua: 10,67%

 Đọc thêm: Cách tính dự phòng trượt giá trong dự toán theo quý

 

Ví dụ tính dự phòng phí trong dự toán (Theo Quý)

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

Cách tính Dự phòng cho công trình nhỏ, thời gian thực hiện ngắn

Bài toán: Tính toán cho công trình gồm 10 căn hộ liền kề có tổng dự toán khoảng 29,8 tỷ đồng, thời gian thực hiện đầu tư xây dựng dự kiến khoảng 2 quý.

Trong đó:

–         Chi phí xây dựng: 26 tỷ đồng

–         Chi phí thiết bị: 3 tỷ đồng

–         Chi phí quản lý dự án: 0,32 tỷ đồng

–         Chi phí tư vấn: 0,4 tỷ đồng

–         Chi phí khác: 0,08 tỷ đồng, trong đó phần lãi vay là 0,016 tỷ đồng

Ta sử dụng công thức tính theo Thông tư 04/2010/TT-BXD:

Untitled1

 Ta có dự phòng khối lượng Kps = 5% => Tính được Gdp1 = 1,49 tỷ

Dự phòng trượt giá tính theo công thức:

Untitled2

– T: độ dài thời gian thực hiện xây dựng công trình (ở đây là 2 quý);

– t: số thứ tự quý phân bổ vốn thực hiện dự án (t = 1¸T) ;

– Vt: vốn chi cho công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t;

– LVayt: chi phí lãi vay công trình dự kiến thực hiện trong quý thứ t.

Cần lưu ý lãi vay này chỉ phải loại bỏ khi nó được tính trong Chi phí khác (Gk), còn trường hợp bạn tính riêng (như một số người lập dự toán vẫn tính) thì không cần phải trừ yếu tố lãi vay trong bảng tính toán dưới đây.

Untitled3

– IXDCTbq: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 quý gần nhất so với thời điểm tính toán;

Untitled4

Lưu ý trong việc chọn các thông số nhập vào:

+ Chúng ta đang tính toán ở thời điểm Quý II/2014, tức nếu tính toán chuẩn phải tính cho 3 quý gần nhất là Quý III/2013, Quý IV/2013 và Quý I/2014. Tuy nhiên do Thành phố Hà Nội chỉ mới công bố Chỉ số giá xây dựng đến hết Quý III/2013, nên chúng ta chỉ có số liệu tính toán cho các quý I, II, III/2013 mà thôi.

(Trong bảng Excel tính toán kèm theo có chỉ dẫn các số liệu lấy ở văn bản nào)

+ Nhìn vào kết quả tính toán ở trên, ta nhận thấy việc tính toán ra chỉ số trượt giá bình quân hàng quý là rất thấp, kết quả ở đây là chỉ số âm (-), phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế Vĩ mô trong thời gian hơn 1 năm trở lại đây, sản xuất chậm, hàng tồn kho tăng cao, cộng với việc thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát mạnh mẽ của Chính phủ, làm chi chỉ số giá có xu hướng giảm, thậm chí có tháng còn có chỉ số âm (giảm).

 ΔIxdbq: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc tế so với mức độ trượt giá bình quân quý đã tính.

Ở đây Lê Vinh giả định mức chênh lệch giữa trượt giá trên thực tế so với mức trượt giá bình quân đã tính toán so với công bố là +0,5%/quý. Thực ra việc chọn con số 0,5% nếu giải thích cặn kẽ thì chẳng có căn cứ nào cả, nhưng cảm tính của Lê Vinh, ở kết quả tính Ixdbq ở trên đã bị âm, như vậy việc tính dự phòng trượt giá của chúng ta nếu để nguyên sẽ có kết quả âm, điều này làm cho việc tính chi phí dự phòng trở nên vô nghĩa. Hơn nữa, thị trường ở Việt Nam biến đổi rất khó lường bởi các chính sách vĩ mô, do vậy cần dự báo một mức tăng +0,5%/Quý hoặc hơn để đề phòng vẫn tốt hơn.

Có thể dễ dàng đưa ra một ví dụ dẫn chứng ở thời điểm này, từ 1/4, Bộ Giao thông vận tải áp dụng việc cân tải trọng xe ở 63/63 tỉnh thành và việc áp dụng khá nghiêm ngặt. Do vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến giá cước vận tải, trước đây vận chuyển hết 1 đồng thì nay lên 1,6 thậm chí 2 đồng, và ngành vật liệu xây dựng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Tuy nhiên trong bảng tính toán chỉ số Ixdbq của chúng ta ở trên, chưa có những câu chuyện biến động giá do vĩ mô như thế này. Như vậy chúng ta có thể thấy, chỉ số   là một công cụ giúp ta điều tiết kết quả tính toán Gdp2 rất hiệu quả.

Với những công thức, số liệu và kết quả tính toán như trên, ta tính được:

Untitled6

GDP = GDP1 + GDP2 = 1.621.836.527 đồng (Tương đương khoảng 5,4%)

Tải file đính kèm:

Hướng dẫn kèm theo

File ví dụ kèm theo

Đọc thêm: Tính dự phòng trượt giá dự toán theo năm

 

Tư vấn về lựa chọn đồ án tốt nghiệp

Một bạn học ở ĐHBK Đà Nẵng có email cho LV hỏi nhờ tư vấn về Đồ án tốt nghiệp, nội dung email như sua:

Chào anh Lê Vinh!

Em là Phúc, học ngành Kinh tế xây dựng và quản lý dự án ở trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Em có đọc một vài blog của anh nên có biết về anh. Em viết thư này mong được anh tư vấn cho em về việc chọn mảng đề tài để làm đồ án tốt nghiệp. Hiện em đang đi thực tập tốt nghiệp và chuẩn bị làm đồ án tốt nghiệp. Em đang phân vân giữa mảng Lập dự án đầu tư và mảng Lập hồ sơ dự thầu. Do em chưa xác định được công việc của các mảng này sau khi ra trường là làm gì, mà anh là người đi trước có kinh nghiệm nên em mong đươc anh tư vấn, giúp đỡ.
Em cảm ơn anh!
Về việc này, LV có tư vấn như sau:
Làm đồ án tốt nghiệp là cách tốt nhất để Sinh viên được tiếp cận các tài liệu mà nó sát với công việc thực tế sau này nhất. Bạn Phúc hỏi hai đề tài là Lập dự án đầu tư và Lập hồ sơ dự thầu đều là những mảng công việc đòi hỏi nhiều kỹ năng mà người kỹ sư kinh tế xây dựng cần phải rèn giũa, tích lũy trong thực tế. Để dễ bề lựa chọn, LV sẽ so sánh sơ qua cho bạn về những cái hay, độ khó và dễ khi bạn chọn hai mảng đề tài này:
1. Lập DA đầu tư: 
– Tài liệu liên quan nhiều, bạn cũng khó xin tài liệu hơn vì dự án đầu tư liên quan nhiều văn bản mà có thể cơ quan nơi bạn xin tài liệu họ không muốn lộ ra ngoài.
– Độ phức tạp cao vì dự án là một tổng thể của nhiều bảng biểu.
– Nhiều văn bản, quy định của Pháp luật liên quan đến quản lý chi phí
– Phải tính toán nhiều bảng, nhiều chỉ tiêu từ Tổng mức đầu tư cho đến các bảng phức tạp như Hiệu quả, Kinh doanh, Lãi vay, Khấu hao, Kế hoạch trả nợ cho đến việc xác định các chỉ tiêu như NPV, IRR, r…
– Cũng vì phức tạp nên khi em bảo vệ đồ án em cũng dễ bị hỏi nhiều hơn.
Bù lại: Em sẽ học được nhiều, biết nhiều và khả năng điểm sẽ cao hơn
4812
Lập dự án đầu tư là một đề tài khó với sinh viên. Ảnh: St
2, Lập hồ sơ thầu:
– Tài liệu liên quan ít, dễ xin tài liệu và có thể xin từ chủ đầu tư, nhà thầu hay bất kỳ ai quen biết có bản vẽ giúp mình lập hồ sơ dự thầu
– Chỉ phải quan tâm đến giải pháp thi công, giải pháp về giá dự thầu
– Tính toán ít, đơn giản
Bù lại: Vì dễ và phổ biến nên khả năng em sẽ khó được điểm cao.

Định nghĩa dự toán theo từng giai đoạn quản lý chi phí

Dựa trên kinh nghiệm quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình có được trong những năm qua, Lê Vinh đưa ra một số khái niệm (một cách hiểu nôm na) về các loại dự toán. Cách định nghĩa hoàn toàn theo các giai đoạn quản lý chi phí trong công trình xây dựng

DN1

Dn2

 

Dự toán thiết kế: Là dự toán được lập trên cơ sở hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc hồ sơ bản vẽ thi công, cập nhật theo đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công thời điểm hiện tại

Đặc điểm:

+ Khối lượng: Bóc tách từ hồ sơ thiết kế

+ Đơn giá: Cập nhật tại thời điểm lập dự toán

+ Người lập: Nhà thầu tư vấn thiết kế

 

Dự toán đã thẩm tra: được đơn vị tư vấn Thẩm tra rà soát,  lập lại từ Dự toán thiết kế trên cơ sở kiểm tra khối lượng trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc hồ sơ bản vẽ thi công (thông thường là đã được thẩm tra), đơn giá cập nhật tại thời điểm thẩm tra hoặc thời điểm lập dự toán (nếu Chủ đầu tư yêu cầu)

Tên gọi chính xác: Dự toán đã được thẩm tra

Đặc điểm:

+ Khối lượng: Rà soát trên hồ sơ thiết kế (đã được thẩm tra)

+ Đơn giá: Rà soát theo thời điểm lập dự toán và cập nhật theo thời điểm thẩm tra

+ Người lập: Đơn vị thẩm tra kiểm, Nhà thầu tư vấn thiết kế in lại hồ sơ, chuyển đơn vị thẩm tra đóng dấu

 

Dự toán phê duyệt: Là dự toán đã được Chủ đầu tư phê duyệt bằng một quyết định. Giá trị dự toán này chính là gía trị dự toán đã được thẩm tra (hoặc thẩm định nếu cần)

 

Dự toán gói thầu: Trên cơ sở dự toán đã được phê duyệt, Chủ đầu tư đưa vào kế hoạch đấu thầu để trình Người quyết định đầu tư phê duyệt. Nếu kế hoạch đấu thầu đã có trước đó, dự toán được duyệt ở trên chính là dự toán gói thầu cập nhật để làm căn cứ mời thầu.

Khi lập hồ sơ mời thầu (hoặc hồ sơ yêu cầu, chào hàng…) thì tiên lượng mời thầu chính là khối lượng được lấy từ dự toán gói thầu đã được phê duyệt.

 

Dự toán dự thầu: Trên cơ sở tiên lượng mời thầu được đính kèm trong Hồ sơ mời thầu (Hồ sơ yêu cầu), Nhà thầu sẽ lập dự toán dự thầu (dự toán đề xuất)

Đặc điểm:

+ Khối lượng: Lấy theo tiên lượng Hồ sơ mời thầu

+ Đơn giá: Xây dựng trên cơ sở hợp lý, đánh giá khả năng trúng thầu, khả năng lãi lỗ khi thi công gói thầu.

+ Người lập: Nhà thầu

Dự toán thi công: Do Nhà thầu lập trên cơ sở hồ sơ thiết kế đã có hoặc hồ sơ các công việc phát sinh trên hiện trường. Do vậy cũng có hai cách hiểu về Dự toán thi công:

1, Dự toán thi công: Nhà thầu lập lại, dựa trên định mức thi công thực tế và đơn giá mà nhà thầu cập nhật từ các nhà cung cấp. Dự toán này được lập nhằm so sánh với giá trị hợp đồng đã ký với Chủ đầu tư, từ đó kiểm soát mức lỗ lãi khi thi công công trình

2, Dự toán thi công: Nhà thầu lập trên cơ sở các khối lượng phát sinh trên hiện trường hoặc phát sinh ngoài hồ sơ thiết kế, là căn cứ để đàm phán với Chủ đầu tư về các phần phát sinh này và bổ sung vào giá trị hợp đồng đã ký kết.

Đặc điểm:

+ Khối lượng: Theo hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công

+ Đơn giá: Tại thời điểm thi công

+ Người lập: Nhà thầu

 

Dự toán bổ sung: Do Nhà thầu, Đơn vị tư vấn hoặc Chủ đầu tư lập trên cơ sở hồ sơ thiết kế bổ sung ngoài thiết kế hoặc do biến động của đơn giá thị trường (nôm na cho 2 yếu tố là bổ sung khối lượng và bổ sung giá):

Đặc điểm:

+ Khối lượng: Theo hồ sơ bản vẽ thiết kế các công việc phát sinh

+ Đơn giá: Theo chế độ chính sách, đơn giá hiện tại

+ Người lập: Có thể là nhà thầu; Đơn vị tư vấn hoặc chính Chủ đầu tư (Và cũng cần được thẩm tra)

 

Dự toán điều chỉnh: Được xác định bằng Dự toán đã duyệt + Dự toán bổ sung. Đơn vị tư vấn hoặc Chủ đầu tư sẽ lập dựa trên Dự toán bổ sung và Chủ đầu tư sẽ phê duyệt điều chỉnh Dự toán công trình sau khi đã được thẩm tra theo các bước như trên.

 

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 6)

Tìm hiểu về việc tính chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4,          Phần 5

Phần tiếp của Chuỗi bài viết “Làm thế nào để giỏi dự toán” hôm nay, LV sẽ giúp các bạn định hình rõ về Chi phí vật liệu đến hiện trường xây dựng.

Vật liệu cùng với nhân công và Máy thi công là là thành phần chính cấu thành Chi phí xây dựng trong Dự toán. Từ trước đên nay, việc xác định giá vật liệu thường được lấy bằng các cách đơn giản như lấy theo Công bố giá Liên sở Tài chính – Xây dựng, lấy theo Báo giá của nhà cung cấp, của một số website chuyên về báo giá….Tuy nhiên khi mà công trình thi công ở một địa bàn khó khăn (vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng núi cao…) hoặc đó là vật tư mà bắt buộc Nhà thầu phải lấy tại nguồn cấp thì việc tính thêm chi phí vận chuyển vật liệu là hết sức cần thiết.

Hiện nay theo hướng dẫn của Thông tư 04/2010/TT-BXD, việc xác định chi phí vận chuyển vật liệu có thể thực hiện bằng hai cách:

–         Xác định bằng định mức vận chuyển

–         Xác định bằng bảng cước vận chuyển hàng hóa.

Có ý kiến cho rằng, hướng dẫn của Bộ xây dựng vẫn chưa mô tả hết các phương pháp vận chuyển (các phương tiện khác nhau) hay điều kiện vận chuyển (đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng không…). Tuy nhiên, chúng ta tạm bỏ qua các yếu tố đó, tập trung vào việc tính vận chuyển vật liệu theo hai cách trên thì cũng đã có nhiều điều đáng bàn.

Ngoài ra hiện nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn khái niệm “giá vật liệu đến chân công trình” và “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng”. Thực ra chúng khác nhau, ví dụ một công trình giao thông (đường, cầu…) kéo dài qua nhiều địa bàn thì không biết nơi nào là “chân công trình”. Do vậy dùng từ “giá vật liệu đến hiện trường xây dựng” mới chính xác, ngoài ra nó còn ẩn ý một điều “giá vật liệu bao gồm cả chi phí tại hiện trường (vận chuyển nội bộ công trường, bốc xếp, hao hụt, bảo quản …)

Công thức tính giá vật liệu đến hiện trường được xác định bằng công thức sau (quy định tại Phụ lục số 6, Thông tư 04/2010/TT-BXD):

Gvl = Gcct + Cht   = Gg+ Cvc + Cht

Trong đó :

– Gcct: giá vật liệu đến công trình; Gcct = Gg+ Cvc

– Gg: giá vật liệu gốc;

– Cvc: chi  phí vận chuyển đến công trình (bao gồm cả chi phí trung chuyển, nếu có).

– Cht: chi phí tại hiện trường bao gồm: bốc xếp, vận chuyển trong nội bộ công trình, hao hụt bảo quản tại kho, bãi.

vanchuyenVL

Minh họa các thành phần chi phí trong giá vật liệu.

Một số lưu ý khi tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng các bạn nên chú ý:

1, Khi thực sự thấy cần thiết hãy tính toán các chi phí liên quan đến vận chuyển, chi phí hiện trường bởi việc này khá phức tạp và nhiều khi Chủ đầu tư không duyệt các khoản chi phí này.

2, Nhiều địa phương không ban hành bảng cước vận chuyển vật liệu, hàng hóa bằng ô tô nên việc tính toán gặp nhiều khó khăn. Nhiều Chủ đầu tư chấp nhận áp dụng bảng cước 89 từ năm 2000 tuy nhiên việc điều chỉnh giá cước về hiện tại cũng khá phức tạp.

3, Mặc dù là một thành phần chi phí trong Giá vật liệu, nhưng thực tế chi phí hiện trường ít được tính toán. Lý do bởi trong định mức thường đã có vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m. Các chi phí liên quan đến bảo quản, hao hụt dự trữ… nhà thầu phải chịu trách nhiệm

4, Khi áp dụng bảng cước, lưu ý nhiều chi phí được tính thêm:

+ Hàng bậc 2 được tính bằng 1,1 lần hàng bậc 1; bậc 3 tính thêm 1,3 lần và hàng bậc 4 tính thêm 1,4 lần hàng bậc 1.

+ Xe 3 cầu chạy xăng (đường miền núi khó khăn), xe dưới 4 tấn được cộng thêm 30% cước.

+ Xe có thiết bị tự đổ cộng thêm 15% cước, xe có thiết bị hút xả cộng thêm 20% cước;

+ Các quy định tăng, giảm cước khác theo quy định của các Địa phương.

LV sẽ có bài viết minh họa rõ hơn cách tính Giá vật liệu đến hiện trường bằng bảng cước hàng hóa trong thời gian gần nhất.

Phần tiếp theo: Cách tính chi phí nhân công trong dự toán

Câu hỏi: Những biểu cần in khi lập dự toán

Câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa gửi vào email của LV với nội dung về các phương pháp lập dự toán cũng như các biểu cần in ấn khi lập dự toán.

Nội dung của email như sau:

Trước tiên em xin cảm ơn những chia sẻ hữu ích của anh trên blog, em đang học dự toán và có một số thắc mắc mong Anh bớt chút thời gian giải thích giúp ạ

Thứ nhất: Hiện nay em biết có 2 phương pháp lập dự toán  theo (Đơn giá * Khối lượng)

1.      Lập dt theo đơn giá địa phương và bù trừ chênh lệch

–          Phương pháp dùng hệ số điều chỉnh

–          Phương pháp bù trừ trục tiếp (bừ trừ bằng lương và giá nhiên liệu năng lượng tại thời điểm lập dự toán)

2.      Lập dt theo đơn giá công trình

3.      Khi chạy bảng dự toán dự thầu

Vậy cho em hỏi giá trị Gxd của 3 bảng trên có bằng nhau không ?

Thứ hai: Các bảng biểu (các sheet) cần in khi lập dự toán theo các pp trên ?

Thứ ba: Ý nghĩa, ưu nhược điểm của từng pp?

Cảm ơn anh nhiều !

 Trả lời:

Trước hết, xin cảm ơn câu hỏi khá hay của bạn, và thay vì trả lời riêng, LV sẽ post câu hỏi lên blog cá nhân để mọi người cùng tham khảo.

LV sẽ trả lời theo đúng thứ tự câu hỏi của bạn Trọng Nghĩa:

Thứ nhất: Đúng là có 2 phương pháp lập dự toán như bạn nói, bản chất của 2 phương pháp là như nhau, đều phải xác định giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công cho thời điểm hiện tại, sau đó tính thêm các khoản chi phí khác (trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại) theo đúng hướng dẫn trong TT 04/2010-BXD.

Còn Dự toán dự thầu là một trong các Phân loại của Dự toán (chúng ta thường nghe đến Dự toán thiết kế; Dự toán gói thầu; Dự toán dự thầu hay Dự toán thi công).

Nếu các dữ liệu nhập vào để giúp tính toán là như nhau (Bảng giá vật liệu, Chế độ chính sách tiền lương, Giá nhiên liệu, năng lượng) thì kết quả đương nhiên của cả 2 cách tính toán theo Đơn giá địa phương hay Đơn giá công trình sẽ phải bằng nhau. Tương tự giá trị Gxd và Dự thầu là như nhau.

Thứ hai: Các bảng biểu cần in khi lập dự toán theo các PP trên, LV sẽ kê theo thứ tự để bạn tham khảo. Lưu ý:

+ LV chỉ kê cho Tổng hợp chi phí xây dựng để bạn tham khảo

+ Hai phần luôn phải có là Bìa dự toán và Các căn cứ lập dự toán LV sẽ không kê sau đây.

+ Nếu dự toán có nhiều hạng mục thì ta in thêm bảng Tổng hợp giá trị các hạng mục

Phương pháp 1: Lập dự toán theo PP đơn giá địa phương:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+ Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

2, Nếu dùng PP bù trừ trực tiếp (với nhân công và máy thi công), cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng Tổng hợp chênh lệch vật liệu, nhân công, máy thi công  (Trong dự toán GXD là sheet TH&CLVT)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy điều chỉnh (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

+ Bảng chạy dự toán theo đơn giá địa phương (Trong dự toán GXD là sheet Dutoan XD)

Phương pháp 2: Lập dự toán theo PP đơn giá công trình:

1, Nếu dùng PP hệ số điều chỉnh, cần in:

+Bảng Tổng hợp chi phí dự toán xây dựng  (Trong dự toán GXD là sheet Gxd)

+ Bảng tổng hợp Dự toán đã cập nhật theo giá công trình (Sheet Gxd)

+ Bảng chạy Đơn giá chi tiết (trong Dự toán GXD là Sheet DGCT XD)

+ Bảng giá trị vật tư (dự toán GXD là Sheet GVT XD)

+ Bảng Thông số (TS)

+ Bảng Tính chi phí nhân công (Trong Dự toán GXD là Sheet NC XD)

+ Bảng tính Giá ca máy (Trong Dự toán GXD là Sheet GCM XD)

DSC_0098

Có nhiều PP lập dự toán nhưng nếu hiểu rõ chúng ta sẽ thấy bản chất các phương pháp đều giống nhau. Ảnh: LV

Với dự toán dự thầu: Bạn phải kiểm tra mẫu yêu cầu của HSMT, thường sẽ phải in các biểu sau đây

Biểu bắt buộc: Bảng tổng hợp giá dự thầu (gồm các hạng mục)

Trong các hạng mục:

Biểu 1: Tổng chi tiết giá dự thầu (Tham khảo Sheet DTDT trong Dự toán GXD)

Biểu 2: Phân tích đơn giá dự thầu (Tham khảo Sheet DGCT trong Dự toán GXD)

Biểu 3: Bảng tính đơn giá vật liệu trong Dự toán dự thầu (Tham khảo Sheet VLHT hoặc GVT trong Dự toán GXD)

Với dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như trong dự toán, tuy nhiên ta không cần in ấn hết như trên do mẫu đã quy định, hơn nữa khi chấm thầu người ta sẽ kiểm tra file gửi kèm của Nhà thầu.

Thứ ba: Ưu nhược điểm của từng phương pháp

Các phương pháp có kết quả như nhau, với PP đơn giá địa phương ở miền Bắc hay áp dụng thì nó thành tiền lệ, cũng do các phần mềm dự toán truyền thống (Acitt, G8…) vẫn hay áp dụng cách này. Ưu điểm của các này là rất nhanh nếu đủ các dữ liệu như Đơn giá địa phương và các văn bản điều chỉnh hệ số dự toán. Tuy nhiên nếu không đủ các dữ liệu được địa phương công bố hoặc ban hành thì việc tính toán trở nên khó khăn.

Với PP lập đơn giá dự toán công trình, ta hình dung công trình ở đâu tính toán ở đó, và ta chỉ cần nắm được giá vật liệu, nhiên liệu năng lượng cũng như chế độ chính sách về tiền lương, phụ cấp ở khu vực đó thì sẽ giúp tính toán nhanh chóng. Ở Miền Nam các phần mềm hướng theo cách này, và nó cũng trở thành tiền lệ.

Với Dự toán dự thầu, chúng ta bắt buộc phải tuân theo hồ sơ Mời thầu hoặc Yêu cầu, do vậy không có sự lựa chọn mà chúng ta phải làm theo mẫu. Tuy nhiên cũng phải lưu ý, với Dự toán dự thầu cũng có 2 cách lập như đã nêu ở trên.

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 5)

Phần 5:Lập dự toán theo PP đơn giá tại công trình: Hiểu sâu về bản chất của dự toán!

Các phần trước:  Phần 1,        Phần 2,          Phần 3,            Phần 4

Định nghĩa: Đơn giá công trình là Đơn giá mà người lập dự toán tự xây dựng từ Định mức và các đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại công trình đó ở thời điểm lập dự toán (thay vì dùng Đơn giá địa phương và bù giá).

Để hiểu hơn về PP này, bây giờ bạn hãy làm một ví dụ đơn giản: Bố mẹ bạn chuẩn bị làm nhà 3 tầng, và bảo bạn hãy tính thử 1 bức tường xây cao 3,5m, rộng 4m, có cửa sổ 1,5*1,5m, xây tường 220 (vữa XM mác 50) thì tính ra bao nhiêu tiền?

Trước hết ta tính khối lượng:

+ Xây cần tính ra m3, vì đơn vị tính công tác xây trong Đm là 1m3

+ KL xây: 3,5*4*0,22 – 1,5*1,5*0,22 = 2,585m3

Tiếp theo ta tìm cách tính 1m3 xây bao nhiêu tiền?

Nếu ở quê, ta hay đi hỏi bác thợ xây xem 1m3 xây bao nhiêu gạch, bao nhiêu xi, bao nhiêu cát, nước… rồi tính nhẩm sẽ ra cơ bản. Nhưng với dự toán, ta cần tính chính xác theo đúng các quy định. Vậy với 1m3 xây, trước hết ta đi tra Định mức 1776 ta được mã hiệu AE.22220 phù hợp với mã hiệu ta cần tra:

HD3

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, Mã AE.2xxxx

Tiếp tục tra cứu ĐM 1776 để xem 1m3 vữa xây xi măng cát mịn, Mác 50, định mức cấp phối vữa như thế nào:

HD4

Trích ĐM 1776, chương 5, Công tác xây, phần cấp phối vữa xây

Nhìn vào định mức ta có thể thấy, để xây 1m3 gạch cần các hao phí như sau:

Vật liệu:

+ Gạch 550 viên; Xi măng: 230,02*0,29 = 66,7 kg; Cát xây: 1,12*0,29=0,3248 kg

+ Vật liệu khác: nước: 220*0,29=75,4 lít (quy định trong ĐM), vật liệu khác: 6% VL chính

Nhân công: Nhân công 3,5/7 là 1,97 công

Máy thi công: Máy trộn vữa 80L: 0,036 ca; Vận thăng: 0,04 ca; Máy khác: 0,5%

Bằng cách lắp giá các vật tư, vật liệu mà ta khảo sát được trên thị trường ta sẽ lập được ngay bảng tính 1m3 khối xây. Lưu ý, phải tính các chi phí đuôi theo đúng quy định của Thông tư 04/2010:

HD5

Bảng tính 1m3 công tác xây tường 220, vữa XM mác 50

Vậy không dùng phần mềm, không dùng đơn giá địa phương, chúng ta vẫn tính được kết quả 1m3 khối xây với đầy đủ các chi phí vào khoảng 1,7 -1,8 triệu đồng

Đơn giá cho 1 bức tường xây mô tả ở trên sẽ là: 1,778 triệu đ/m3 * 2,585 m3 = 4,596 triệu đồng.

Lưu ý: Nếu dùng PM dự toán GXD hoặc Dự thầu GXD, các bạn sẽ rất nhanh chóng chỉ mất 1-2 phút tính toán với bài tập trên

Bản chất của Lập dự toán theo PP đơn giá công trình là như vậy. Chúng ta có định mức, khảo đơn giá thị trường hoặc với đơn giá nhân công, giá ca máy thì tính toán theo đúng hướng dẫn của Nhà nước sẽ dễ dàng tính được đơn giá của một công tác mà không cần dùng đến đơn giá địa phương.

Lưu ý: Địa phương muốn lập được đơn giá họ cũng làm theo cách như LV vừa hướng dẫn.

Để rõ hơn về PP lập đơn giá công trình, mời các bạn tiếp tục xem lại tài liệu “Các bước thực hành trên phần mềm dự toán GXD” – Phần 2, PP đơn giá công trình.

Xem tài liệu tại đây

DSC_0104

Mỗi công trình có một đặc điểm riêng về thị trường, việc tính toán đơn giá công trình là hợp lý. Ảnh: Chung cư huyndai hillstate (Chụp: LV)

Phần tiếp: Cách tính giá vật liệu đến hiện trường xây dựng

Làm thế nào để giỏi dự toán (Phần 4)

Lập dự toán bằng Phương pháp sử dụng đơn giá địa phương

(Hiểu bản chất của lập dự toán bằng PP đơn giá địa phương)

Trước hết các bạn phải hiểu vì sao gọi là Đơn giá địa phương: Đơn giá do các Tỉnh, Thành phố ban hành ra ở một thời điểm nào đó kèm theo Quyết định công bố được gọi là đơn giá địa phương. Ví dụ:

+ Đơn giá số 56 Hà Nội năm 2008 (Đã được thay thế)

+ Đơn giá xây dựng 5481 năm 2011 của Hà Nội

Đơn giá được công bố thường được xây dựng trên cơ sở định mức đã được Bộ Xây dựng ban hành (ngoại trừ một số Bộ ngành khác công bố định mức và công bố luôn đơn giá). Do vậy, thường các địa phương có kết cấu đơn giá giống nhau, nhưng số liệu đơn giá lại khác nhau do đơn giá Vật liệu, Nhân công, Máy thi công ở mỗi nơi một khác nhau.

Vậy thì muốn tính dự toán cho 1 công tác nào đó, cách làm của chúng ta vẫn là:

Đơn giá công tác = Khối lượng * Đơn giá

abc

Phương pháp lập dự toán phổ biến nhất: Khối lượng nhân với Đơn giá

Trong đó khối lượng xác định từ bản vẽ và Đơn giá lấy theo đơn giá địa phương

Tuy nhiên Đơn giá thường được ban hành từ một thời điểm nào đó (ví dụ Đơn giá HN 2011 ban hành tháng 11/2011), và thường sẽ là đơn giá không đầy đủ (chưa tính đuôi chi phí gồm trực tiếp phí khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế GTGT và chi phí lán trại). Như vậy khi sử dụng đơn giá địa phương ta phải làm 2 việc sau:

+ Điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại

+ Tính các chi phí đuôi để có một đơn giá đầy đủ

Để điều chỉnh đơn giá về thời điểm hiện tại người ta thường phải bù các yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công bằng cách phương pháp như là bù trừ trực tiếp (tính chênh lệch) hoặc nhân hệ số điều chỉnh (Kđ/c)

A-1

Trích đơn giá xây dựng 5481 Hà Nội ban hành năm 2011

 Ví dụ: Tính toán đơn giá của 10m3 bê tông cột mác 250, ta làm như sau:

+ Mở đơn giá HN 2011 ra, trang 160 có đơn giá bê tông cột (như minh họa hình trên)

Cách 1: Lấy giá trị 1.801.480 nhân với đơn giá 10 sẽ có ngay giá trị: 18.014.800 đồng

Tuy nhiên cách này chỉ tính đơn đơn giá tổng hợp cho bê tông cột tại thời điểm ban hành đơn giá (tháng 11/2011), muốn tính thời điểm này là khó do chúng ta không rõ trong 1.801.480 kia gồm những đơn giá cụ thể gì?

Cách 2: Tính toán cho từng giá trị theo giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công rồi tính thêm các phần chi phí đuôi:

Đơn giá 10m3 bê tông = 10*[(VL+NC+MTC)+TT+C+TL+VAT+Gxdnt]

= 10*[(758.902+974.354+67.224)*1,025*1,065*1,055*1,1*1,01]

Giải thích cách tính: 1,025 ; 1,065; 1,055; 1,1; 1,01 lần lượt là phần tính thêm của 2,5% trực tiếp phí khác; 6,5% chi phí chung; 5,5% thu nhập chịu thuế tính trước; 10% thuế GTGT và 1% chi phí xây dựng nhà tạm của công trình dân dụng.

Với cách tính chi tiết này, chúng ta sẽ có các công cụ PM dự toán giúp phân tích chi tiết xem trong các giá trị VL = 758.902, NC=974.354, MTC=67.224 mà Hà Nội ban hành ở trên gồm những vật tư cụ thể gì, khối lượng định mức là bao nhiêu từ đó tính toán điều chỉnh dự toán về thời điểm hiện tại.

Hầu hết mọi phần mềm dự toán đều dùng cách 2, nguyên lý là Điều chỉnh giá trị Vật liệu, Nhân công, Máy thi công về thời điểm hiện tại và Tính thêm các chi phí đuôi. Và để lập dự toán nhanh, chúng ta cần sử dụng các phần mềm dự toán, bởi các dữ liệu đã được mã hóa, giúp việc tra cứu và thao tác trở nên nhanh chóng, thuận tiện.

Để rõ hơn, các bạn đọc tài liệu “Các bước thực hành dự toán trên phần mềm GXD” – Phần hướng dẫn theo đơn giá địa phương.

Xem tài liệu tại đây

Phần tiếp: Cách lập dự toán sử dụng định mức công bố và đơn giá vật tư tự xác định (PP đơn giá công trình)

Thắc mắc dự toán: Các vấn đề về đào, đắp, vận chuyển đất (phần 1)

Câu hỏi 1: Khi lập dự toán đào đất, khối lượng đào lên và khối lượng chuyển đi đổ tính theo khối nguyên thổ hay khối rời?

Trả lời: Tham khảo Thuyết minh chương II (Công tác đào đắp đất, đá, cát), Bộ Xây dựng đã hướng dẫn rất rõ ràng:

+ Định mức đào đất tính cho khối lượng đất đào đo tại nơi đào (tức tính khối nguyên thổ)

+ Định mức vận chuyển tính cho 1m3 đo tại nơi đào và đã tính đến hệ số nở rời của đất.

Trường hợp tính khối lượng vận chuyển nhiều bạn thắc mắc, đất đào lên sẽ tơi ra (nở rời), tại sao vận chuyển vẫn tính 1m3. Các bạn đọc phần hướng dẫn kỹ sẽ thấy, “Định mức vận chuyển đã tính đến hệ số nở rời của đất”. Ví dụ trong Định mức vận chuyển 100m3 đất cấp II bằng ô tô tự đổ hết 1,330 ca, thì trong con số 1,330 này đã nhân thêm hệ số nở rời của đất.

Câu hỏi 2: Khi lập dự toán, chọn tổ hợp máy đào đất và ô tô vận chuyển như thế nào cho phù hợp

Trả lời: Chọn máy đào dung tích bao nhiêu m3 hay ô tô bao nhiêu tấn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đào ít hay đào nhiều, mặt bằng hay vị trí thi công có thuận lợi hay không và quan trọng nhất là dung tích máy đào + cự ly vận chuyển… Khi lập dự toán nếu làm chuẩn thì phải tuân theo TCVN 4447:1987 chứ không thể do người lập tự “bốc thuốc” được

Các bạn có thể tham khảo các văn bản sau để rõ hơn về tổ hợp máy đào:

1, Nếu chọn tổ hợp máy đào các bạn tham khảo bảng 11 (mục 3.78) trang 20 TCVN 4447:1987
2, Nếu chọn ô tô vận chuyển các bạn tham khảo bảng 12 (mục 3.82) trang 20 và bảng 13 trang 20 TCVN 4447:1987

3, Sự tương ứng giữa ô tô vận chuyển và máy đào nên tham khảo phần Ghi chú sau mã hiệu AB.4xxxx (Định mức 1776, khoảng trang 57)

excavation-900-650

Lập dự toán đào đất phải theo biện pháp thi công với tổ hợp máy đào – ô tô phù hợp. Ảnh: inernet

Câu hỏi 3: Có ý kiến cho rằng, trong công tác đào đất bằng máy, đã có công tác đào thủ công, điều này đúng hay sai, tỷ lệ thủ công trong đó là bao nhiêu nếu điều đó đúng?

Trả lời:

Ý kiến này hoàn toàn đúng, các bạn có thể tham khảo một định mức đào đất bằng máy sẽ thấy việc đào đất bao gồm cả máy và thủ công trong đó:

HD5

Định mức đào đất móng bằng máy đào <= 0,8m3

Trong hình  ở trên, rõ ràng để đào 100m3 đất ta cần dùng một khối lượng nhân công đi kèm khá lớn, đất có cấp càng cao (cứng hơn) thì hao phí nhân công càng lớn..

Còn muốn biết đào đất thủ công chiếm bao nhiêu % trong này có thể làm một phép so sánh tính toán tương đối như sau:

+ Tra mã hiệu đào đất thủ công (AB.113xx) chẳng hạn, sẽ thấy đào đất thủ công đất cấp II cần khoảng 1 công/1m3. Vậy với 6,11 công khi đào 100m3 đất ở hình ở trên, so sánh tương đương sẽ thấy 100m3 chiếm mất 6,11% đào thủ công.

Câu hỏi 4: Căn cứ nào để lấy tỷ lệ đào đất bằng máy là bao nhiêu, đào thủ công là bao nhiêu khi thi công công tác đất?

Trả lời:

Tỷ lệ đào máy hay thủ công bao nhiêu hoàn toàn phải căn cứ vào điều kiện tổ chức biện pháp thi công. Có những móng nhà có thể đào máy đến 95-96%, tuy nhiên có móng nhà ngược lại, chỉ có thể đào thủ công (do máy không vào được), do vậy không có văn bản nào quy định về tỷ lệ này.

Khi lập dự toán, người lập có thể ước lượng tỷ lệ này là 90% đào máy và 10%, đây hoàn toàn là con số tạm tính theo thói quen

Dao-thucong

Đào đất bằng thủ công. Ảnh: Internet