Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu?

Một bạn có email dungnguyen2411…@gmail.com có câu hỏi gửi Lê Vinh về nội dung liên quan giữa giá dự thầu và hồ sơ mời thầu

Nội dung câu Câu hỏi như sau: “Nội dung trong hồ sơ mời thầu ảnh hưởng như thế nào đến việc lập giá dự thầu trong hồ sơ dự thầu?”

Lê Vinh xin Trả lời bạn như sau:

(Lưu ý: Câu trả lời sau áp dụng cho gói thầu xây lắp)

Theo Quy định của Bộ kế hoạch đầu tư, hồ sơ mời thầu gồm 3 phần:

–         Phần 1 gồm các chỉ dẫn đối với Nhà thầu

–         Phần 2 gồm các yêu cầu về xây lắp (kỹ thuật)

–         Phần 3 gồm các yêu cầu trong hợp đồng

1, Phần chỉ dẫn với Nhà thầu đưa ra các yêu cầu về năng lực hồ sơ mời thầu và các hướng dẫn về việc chuẩn bị hồ sơ, niêm phong, nộp hồ sơ. Trong phần ngày bên mời thầu cũng hướng dẫn các mẫu trình bày trong hồ sơ dự thầu từ đơn dự thầu, ủy quyền, thư bảo đảm, các bảng kê khai, biểu trình bày giá dự thầu…

Như vậy với phần chỉ dẫn với Nhà thầu chỉ có các biểu mẫu là liên quan đến việc lập giá dự thầu, chúng ta cần xem xét kỹ để có sự trình bày đúng form mẫu tránh bị trừ điểm khi bên mời thầu đánh giá hồ sơ.

 

2, Phần các yêu cầu về xây lắp là các quy định việc thực hiện thi công xây lắp phải theo bản vẽ thiết kế đã được phê duyệt, kèm theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng để quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây dựng. Do vậy phần này là hết sức quan trọng, cụ thể:

+ Bản vẽ: Giúp chúng ta xác định rõ các đầu việc, khối lượng, từ đó xác định được khối lượng thừa thiếu so với tiên lượng mời thầu để chào bổ sung.

+ Tiên lượng: Giúp ta nhanh chóng xác định đơn giá dự thầu, tổng hợp giá chào thầu. Tiên lượng cũng là cơ sở xem xét các khối lượng thừa thiếu để chào giá bổ sung giúp sau này trúng thầu có cơ sở thương thảo hợp đồng.

+ Các yêu cầu về mặt kỹ thuật: Giúp đưa ra giải pháp thi công hợp lý, từ đó có giá chào thầu hợp lý, đảm bảo chất lượng tiến độ nhưng giá vẫn cạnh tranh. Ví dụ với đào đất hố móng ta có thể có giải pháp đào kết hợp máy, thủ công (tỷ lệ% công việc), đồng thời có các biện pháp đảm bảo thành hố đào, bơm nước và giữ ổn định cho các công trình lân cận.

+ Bên cạnh đó cần xem xét kỹ các yêu cầu về chủng loại vật liệu đưa vào giá dự thầu, ví dụ nếu yêu cầu của Hồ sơ mời thầu là sử dụng các loại thép liên doanh nhưng chúng ta chào giá dự thầu là thép Thái Nguyên thì sẽ không đạt dù giá là thấp hơn.

3, Phần yêu cầu về hợp đồng: Trong phần này ta chú ý 3 yếu tố:

+ Hình thức đơn giá hợp đồng: Hình thức đơn giá liên quan mật thiết đến giá chào thầu, nếu hợp đồng là đơn giá trọn gói hay đơn giá cố định thì giá chào thầu cần dự báo được các yếu tố biến động trong tương lai, tức phải có sự dự phòng trong đó. Nếu hợp đồng đơn giá điều chỉnh thì đương nhiên ta cần cân đối chào giá ở mức thấp, mà quan tâm chủ yếu vào yếu tố kỹ thuật để cạnh tranh với các đối thủ (thường trong đấu thầu ít khi Chủ đầu tư áp dụng đơn giá điều chỉnh). Đặc biệt lưu ý thêm nếu hợp đồng đơn giá trọn gói thì khối lượng phải xác định chuẩn xác ngay từ lúc bóc hồ sơ bản vẽ phục vụ lập giá dự thầu, tránh các khối lượng thiếu gây lỗ trong quá  trình thực hiện hợp đồng.

+ Tiến độ: Tiến độ tối đa được quy định trong hợp đồng và Bảng dữ liệu đấu thầu (Phần 1), túm lại giá hợp đồng cần phải cân đối phù hợp với tiến độ thực hiện. Ví dụ: Nếu thi công 40 căn biệt thự trong vòng 6 tháng thì bạn có thể luân chuyển cốp pha, nhưng nếu phải thi công trong vòng 3 tháng thì việc luân chuyển cốp pha là rất khó. Do vậy việc chào giá ván khuôn trong trường hợp này cần phải có sự cân đối phù hợp.

Vincom Village_1

Chủ đầu tư tư nhân rất chú trọng thưởng phạt tiến độ trong Hợp đồng. Ảnh: Dự án VincomVillage

+ Tạm ứng: Việc được tạm ứng hay không rất quan trọng, nếu hợp đồng không được tạm ứng (một số công trình vốn ngân sách) thì giá chào thầu cần tính toán đến việc huy động vốn, lãi vay ngân hàng.

+ Thưởng phạt: Hiện nay nhiều Chủ đầu tư tư nhân (họ rất quan trọng tiến độ) sẽ có thưởng phạt rất phân minh, nhiều Nhà thầu vì tiến độ không đạt mà bị phạt, khiến cho lãi dự kiến được hưởng cuối cùng chỉ đủ bù vào tiền phạt tiến độ hoặc chất lượng công việc.

Vấn đề thanh toán các công việc liên quan đục lỗ chờ lắp đường ống

Một bạn có tên Hà có email eyenight….@yahoo.com ở Hà Nội, đang công tác ở vai Chủ đầu tư có gửi mail hỏi một số câu hỏi liên quan đến việc thanh toán chi phí cho công tác thi công phần đường ống cấp thoát nước của Nhà thầu. Lê Vinh trên quan điểm hiểu biết sơ bộ về lĩnh vực này, xin được đưa ra một số ý kiến cá nhân và phản hồi lại cho bạn đó tham khảo. Tiện post lên blog để mọi người có thể đọc, thảo luận thêm.

Hỏi:
1, Việc khoan lỗ để lắp các ống thoát nước chậu rửa, thoát xí, máy giặt… có được tính riêng cho nhà thầu không? (Việc này nhà thầu xây dựng phải đặt sẵn lỗ chờ hay là nhà thầu cấp thoát nước phải đục sau khi vào thi công?)

Trả lời:Nguyên tắc là Nhà thầu làm theo đúng hồ sơ thiết kế đã nêu trong hợp đồng (hồ sơ mời thầu). Trong hồ sơ thiết kế đầy đủ bao giờ cũng phải có các lỗ chờ để phục vụ thi công lắp đặt thiết bị vệ sinh, đường ống. Có thể lúc thi công phần thân thô chưa có Hồ sơ thiết kế phần điện nước thì Chủ đầu tư phải chấp nhận trả thêm phần chi phí này cho các công việc phát sinh liên quan đến khoan, đục lỗ.

Mặt khác có thể nhìn thấy rõ, trong Định mức các công tác lắp ống thoát nước không có công tác khoan bê tông.

Do vậy, nếu có các công tác đó ta phân ra 2 trường hợp:

+ Có trong hồ sơ thiết kế ban đầu, nhưng Nhà thầu thi công bê tông không trừ lỗ thì họ phải khoan đục vì họ làm chưa đúng hồ sơ thiết kế.

+ Không có trong hồ sơ thiết kế ban đầu mà bổ sung ở phần điện-nước sau khi đã thi công phần thô thì Chủ đầu tư phải mất thêm chi phí cho công tác khoan đục.

DSC_0154

Hệ thống đường ống thoát nước thải trong công trình. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
2, Việc thử áp lực và thử kín đường ống cấp thoát nước có được tính thêm cho nhà thầu không? Theo mình thì việc thử này là nằm trong BPTC của nhà thầu, nhà thầu phải có trách nhiệm thi công đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho CĐT nghiệm thu nên không được tính.

Trả lời:

Nhà thầu chỉ thi công đúng các công tác để hoàn chỉnh theo đúng hồ sơ thiết kế nêu trong hợp đồng. Việc thí nghiệm vật liệu trước khi thi công thuộc về trách nhiệm của Nhà thầu (để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán (HSCL)). Đối với các thí nghiệm hiệu chỉnh theo yêu cầu của Chủ đầu tư thì Chủ đầu tư phải mất thêm phí (Thuộc về Chi phí lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh trong Gtb).

Vậy với công tác thử kín đường ống cấp nước, phải xem lại:

+ Trong BPTC Nhà thầu có mô tả không, TCVN về công tác đó có yêu cầu không

+ Trong Đơn giá họ chào có việc đó không

Nếu có Nhà thầu phải chịu đơn giá đó

Trường hợp không có thì đương nhiên là yêu cầu riêng của Chủ đầu tư và Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí này.

Phản hồi: Ảnh Trần Ngọc Hải (SG) có phản hồi về vấn đề này như sau, LV post lên đây các bạn tham khảo:

Các nút bịt chỉ là biện pháp thi công của nhà thầu để khỏi tắc đường ống. Cái chủ đầu tư nghiệm thu là chất lượng, kỹ thuật chứ không nghiệm thu biện pháp của nhà thầu

Việc thử áp lực hay kín là trách nhiệm của nhà thầu để cdt nghiệm thu chất lượng. Ví dụ công tác bê tông ngoài nghiệm thu bê tông đổ tại chỗ đạt ra còn phải quan tâm đến thẩm mĩ, chất lượng như bê tông rỗ hay không, phù hay không. Chẳng Chủ đầu tư nào bỏ tiền đi bịt lỗ rỗng bê tông hay đi mài cạnh khi đã nghiệm thu công tác đổ bê tông

chungcuHNlevinhxd

Chung cư Linh Đàm – Hà Nội. Ảnh: Lê Vinh

Hỏi:
3, Các nút bịt để phục vụ BPTC thử kín, thủ áp lực và bảo vệ không cho rác thải chui vào đường ống cấp thoát nước có được tính không?

4, Định mức lắp đặt ống nước đã bao gồm việc đục tường, sàn để đi ngầm ống chưa? (Theo mình thì chưa. nhưng từ xưa đến giờ chả thấy ai tính đến việc này cả?)

Trả lời:

Những vật liệu không có trong Định mức của các công tác lắp đặt đường ống và các phụ kiện đường ống thì phải tính riêng, trường hợp này chắc chắn Nhà thầu được tính riêng.

Lời khuyên: Với các công tác cụ thể, bạn cần mở Định mức 1776, 1777 ra xem công tác đó được mô tả gồm những việc gì, đã bao gồm hoặc chưa có những việc gì (đọc kỹ cả phần thuyết minh và các thành phần vật liệu, máy thi công)… Ví dụ như công tác lắp đặt đường ống nước thì chưa bao gồm việc đục tường, sàn để đi đường ống, nhưng công tác lắp đặt ruột gà, bảo ôn thì lại đã gồm việc đục, trát phẳng…

Chúc anh thành công trong công việc!

Thân chào!

Câu hỏi và trả lời về Lập dự toán dự thầu (Khối lượng thừa thiếu, Chi phí máy thi công)

Bạn Thùy Liên có câu hỏi hay gửi vào mail, mình đăng lên đây để các bạn cùng tham khảo và comment nếu có những ý kiến khác giải thích giúp bạn ấy nhé!

Em chào thầy ạ, thầy ơi, thầy cho em hỏi một vài vấn đề về đấu thầu với ạ:

1. Khi lập hồ sơ dự thầu, bên nhà thầu phát hiện khối lượng mời thầu trong bảng tiên lượng có sai khác thừa (thiếu) so với thiết kế, thì việc xử lý khối lượng sai khác này sẽ được xử lý ở giai đoạn nào trong quá trình đấu thầu sau ạ: làm rõ hồ sơ mời thầu, làm rõ hồ sơ dự thầu hay trong quá trình thương thảo ạ? và với trường hợp khối lượng mời thầu nhiều hơn so thiết kế thì cách xử lý như thế nào ạ?

Trả lời: Trong Bảng dữ liệu đấu thầu của Hồ sơ mời thầu bao giờ cũng quy định rõ về khối lượng thừa thiếu, thường là thế này Phần giá trị Nhà thầu tính trên khối lượng thừa/thiếu so với HSMT được bên mời thầu xem xét trong quá trình thương thảo Hợp đồng (nếu Nhà thầu trúng thầu). Nếu nhà thầu không có ý kiến gì về tiên lượng mời thầu thì được hiểu là nhà thầu đã công nhận tiên lượng mời thầu.”

Trường hợp phát hiện có những sai sót khối lượng lớn hoặc nhầm lẫn về đơn vị tính, nhà thầu cần có văn bản gửi Bên mời thầu đề nghị làm rõ Hồ sơ mời thầu. Tuy nhiên việc này phải triển khai trước 10 ngày trước khi đóng thầu để Bên mời thầu có thời gian xử lý theo Quy định tại Điều 33, 34 của Luật Đấu thầu. Nếu không đủ 10 ngày thì cứ chào thầu theo đúng tiên lượng, phần khối lượng sai sót đó coi như khối lượng thừa thiếu và thực hiện đúng như quy định ở trên.

Như vậy tóm lại câu hỏi của bạn sẽ được trả lời như sau: Sẽ xử lý ở hai giai doạn Làm rõ HSMT và Thương thảo hợp đồng

Ảnh

Tính toán khối lượng trước khi đưa qua quyết định chào thầu là điều rất quan trọng. Ảnh: Lê Vinh

2. Khi lập đơn giá dự thầu, ta lập bảng giá ca máy, nếu giả sử 1 loại máy nào đó đã hết thời gian khấu hao thì khi đó tính giá ca máy như thế nào ạ?

Trả lời:

Trước hết phải hiểu thế này: Máy mà nhà thầu đưa vào thi công phải đảm bảo các quy định về an toàn khi thi công, tức cần phải có giầy tờ kiểm định, các khoản bảo hiểm kèm theo…. Như vậy khi chào thầu mà tự nhận đưa máy hết khấu hao vào thi công là điều không nên, ví có thể đó là một điểm trừ khi chấm bước kỹ thuật.

Trên thực tế muốn tính giá ca máy khi máy hết khấu hao, bạn hãy xác định nguyên giá đó bằng bao nhiêu (chính là giá thị trường được định giá với máy đó, tại thời điểm đó, lưu ý bao gồm tất cả các chi phí vận chuyển và lắp đặt trước khi thi công – Hãy tham khảo định nghĩa nguyên giá trong Thông tư 06/2010).

Tuy nhiên khi chào thầu, để đơn giản, hãy tính một tỷ lệ % so với nguyên giá máy mới được ban hành trong TT06/2010. Ví dụ một ô tô chở đất có nguyên giá mới 1 tỷ, bạn có thể bỏ thầu với nguyên giá 40% = 400 triệu chẳng hạn.

3. E thấy khi lập giá dự thầu, có đề cập tới yếu tố dự phòng cho rủi ro và trượt giá, vậy nhưng e thấy các công ty không hay tính tới yếu tố đó ạ, tại sao lại như vậy ạ?

Trả lời : Nếu em đang bàn tới dự thầu với gói thầu trọn gói, nếu nói các công ty không tính tới yếu tố trượt giá là không đúng. Việc chào thầu với các gói thầu này đòi hỏi phải tính toán kỹ lưỡng khối lượng và cân nhắc kỹ ở đơn giá, phải dự phòng vào trong giá vật liệu, nhân công, máy thi công các yếu tố trượt giá để đảm bảo việc thi công là có lãi.

Một vài câu hỏi về dự toán – thanh toán

LV trân trọng cảm ơn các bạn đã đọc blog, cũng cám ơn các bạn Học viên đã gửi các câu hỏi về hòm thư levinhxd@gmail.com. LV xin tiếp tục được giải đáp một số câu hỏi của các bạn và post lên đây để mọi người có thể thảo luận, tham khảo thêm:

Câu hỏi 1 (bạn Dương Thị Quyên – quyen_duong@….) – VẤN ĐỀ VỀ PHỤ CẤP TRONG HỆ SỐ ĐIỀU CHỈNH NHÂN CÔNG

 Anh cho em hỏi là hệ số điều chỉnh nhân công, máy đã bao gồm các khoảng phụ cấp lưu động, lương phụ, không ổn định sản xuất, chi phí khoán TT. Và có văn bản nào nói rõ về điều đó không ạ. Cảm ơn anh và mong anh hồi đáp.

Trả lời: Bản chất của Hệ số điều chỉnh là theo tỷ lệ (chứ ko phải bù trừ tuyệt đối)

Tức là Nó điều chỉnh so với 1 giá trị gốc, vậy Đơn giá nhân công gốc có những phụ cấp như bạn hỏi hay ko thì hệ số điều chỉnh sẽ tăng theo tỷ lệ lên giúp bạn!
Thường thì Trong ĐG gốc của các tỉnh (Bạn nên đọc ở Mục 2-2 Căn cứ tính nhân công trong Thuyết minh Đơn giá) thì Nhân công được tính gồm PC Lưu động, Lương Phụ, Lương Khoán, Ko ổn định sx (nếu có)…Riêng PC khu vực thì có nơi có nơi ko, hoặc người ta tính thêm tùy theo địa bàn xd các công trình.
Như vậy đã dùng hệ số thì ko phải đắn đo về việc điều chỉnh phụ cấp nữa, trừ phi đó là PC khu vực. Nhưng trong ĐG gốc của địa phương không có PC khu vực thì ở Dự toán mới, muốn điều chỉnh cũng khó đc chủ đầu tư chấp nhận lắm bạn à!
Thân chào!
Cầu hỏi 2 (Bạn Nguyễn Trung Dũng – trungdungxd86@….) – VẤN ĐỀ VỀ MÃ HIỆU CÔNG TÁC LÁNG VỮA
Em chào Thầy. Em là học viên đã từng tham gia lớp đào tạo bóc tách làm dự toán được mở tại công ty Giá Xây Dựng.
Em có một vấn đề muốn trao đổi với Thầy mong Thầy giúp đỡ em:
– Em đang check khối lượng cho nhà thầu thi công nhưng có một mã mà em tra mãi trong định mức không có: AK.41225 LÀ CÔNG TÁC LÁNG NỀN SÀN CÓ ĐÁNH MÀU DÀY 4,5CM VỮA MÁC 100???
Mong Thầy xem giúp em. Em cảm ơn Thầy rất nhiều.
Trả lời:
Chào bạn!
Định mức chỉ có mã công việc cho chiều dày 3,0cm thôi em, đó là mã AK.41220

Với đơn giá thì sẽ có mã hiệu AK.41225 tương ứng với mã Mác 100
Như vậy với nền sàn đánh màu dày 4,5cm  thì cần có biện pháp nội suy hoặc chiết tính lại thêm phần Định mức vật liệu và Hap phí nhân công phải bù thêm cho phù hợp (Có thể thấy dễ nhất là điều chỉnh hệ số vật liệu và nhân công lên 1,5 lần so với láng nền sàn 3,0cm).
Về mã hiệu thì có thể Vận dụng hoặc chiết tính lại mã hiệu AK.41225
CHúc bạn thành công!

Lập Dự toán hay Thanh toán công trình đều phải hiểu các quy định về chế độ chính sách Nhà nước hoặc cập nhật giá cả thị trường. Ảnh: Hoàng Tuấn

Câu hỏi 3: (Bạn Đỗ Nguyễn…email: xuando319@gmail.com) – HỎI VỀ HỆ SỐ ĐIỀU CHỈNH  CHI PHÍ MÁY THI CÔNG

Chào thầy!

Trước đây em có họp lớp thanh toán của Công ty thầy: Trong tài liệu lập dự toán do Công ty GXD biên soạn phần ví dụ minh họa 2(bù giá ca máy theo phương pháp đơn giản)

Chi phí nhiên liệu năng lượng của máy thời điểm tháng 2/2011 được tình bằng công thức số 4 cụ thể như sau:

– Máy đào một gầu bánh xích:                        32.4 x 15.040 x 1.05 = 511.611 (đồng/ca)

–  Máy đào ca :                                       132 x1.207 x1.07  =170.477     (đồng/ca)

Em không hiểu hệ số K =1.05 và 1.07  lấy ở đâu hay phải tính toán . Nhờ thầy hướng dẫn giúp em

Trả lời:

Trước hết mình xin đính chính, hiện mình không phải công tác ở Công ty GXD mà chỉ hợp tác với GXD ở các lớp học do công ty mở.

Về câu hỏi của bạn, rất đơn giản: hệ số K chính là hệ số nhiên liệu, năng lượng phụ trong công thức tính Chi phí nhiên liệu, năng lượng của Máy và thiết bị thi công. Bạn tưởng tượng đơn giản: Xe máy ngoài việc đổ xăng hàng tuần thì cứ 2000km bạn phải thay dầu nhớt 1 lần, đó là nhiên liệu phụ

Trong thông tư 06/2010 của BXD đã quy định rõ:

Với máy chạy nhiên liệu xăng, K=1,03; diezel K=1,05 và động cơ điện K=1,07

Câu hỏi 4: (Bạn Lý Kiệt Hiền – email: kiettdm@yahoo…) – VẤN ĐỀ THANH TOÁN HỢP ĐỒNG TRỌN GÓI VỚI CÔNG TÁC VÁN KHUÔN KIM LOẠI, VÁN KHUÔN GỖ
Tôi thấy trên blog của bạn có những bài viết rất hữu ích, đặc biệt thông điệp ” chia sẻ là hạnh phúc ” rất ấn tượng nên tôi cũng muốn chia sẻ và trao đổi một số vấn đề về quyết toán công trình vốn ngân sách như sau:
Đây là công trình xây dựng tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vào năm 2005, hiện nay công trình đã quyết toán xong với Sở tài chính nhưng đang được Thanh tra Bộ tài chính thanh tra.
Qua dự thảo thanh tra có các vấn đề sau:
– Dự toán thiết kế lập với đơn giá sử dụng loại ván khuôn gỗ, hồ sơ mời thầu yêu cầu sử dụng toàn bộ dàn giáo, cây chống, giằng … bằng sắt, hồ sơ dự thầu mô tả biện pháp thi công sử dụng ván khuôn thép, đơn giá dự thầu là tổng  hợp ( không rõ mã hiêu đơn giá nhưng khả năng là dùng mã hiệu ván khuôn gỗ sau đó có sử dụng kỹ thuật giảm giá )
– Quyết toán sử dụng đơn giá trúng thầu và không có ý kiến gì thêm từ Sở tài chính
– Thanh tra BTC dùng kỹ thuật lập lại dự toán thiết kế ban đầu với ván khuôn kim loại và đương nhiên có sự thay đổi đơn giá theo hướng giảm xuống và giá trị giảm xuống này là cơ sở để giảm trừ giá trị QT của Nhà thầu
Như mô tả này, bạn thấy Thanh tra thực hiện có đúng qui định không, nếu đúng thì họ đã căn cứ vào cơ sở pháp lý nào ?
Rất mong nhận được phản hồi từ bạn.
Trả lời:
Xin có ý kiến với câu hỏi của anh:

Gói thầu này đã bắt đầu thực hiện vào năm 2005. Tức là trước khi Luật Đấu thầu có hiệu lực, như vậy nếu xét câu hỏi trên các quy định của Luật đấu thầu và các Nghị định 111, 58 hay 85 đều không có ý nghĩa.
Luật Xây dựng 2003 cũng không nói rõ vấn đề này.
Bạn cũng không nói rõ là Hợp đồng trọn gói hay Hợp đồng điều chỉnh giá.
Tuy nhiên tôi nghĩ quan điểm tính toán lại đơn giá theo Cốp pha kim loại (của Bộ tài chính) là đúng, Lý do như bạn đã nêu:
1, HSMT yêu cầu sử dụng VK kim loại
2, HSDT đã chào thầu sử dụng VK kim loại
Tuy nhiên tiếp tục xét:
1, Giá chào thầu với VK Kim loại  lại bằng (hoặc vượt) Đơn giá thiết kế lập = VK gỗ
Tại sao lại như vậy? Nếu chiết tính lại VL kim loại theo đúng ĐM nhà nước và GIá VL do sở Tài chính XD công bố nếu thấp hơn (nhiều) so với VK Gỗ thì sẽ xem xét tại sao như vậy?
Nếu Chủ đầu tư và Nhà thầu không đưa ra được lý do chính đáng thì việc giảm trừ là cần thiết
Trường Hợp Nhà thầu có giải pháp giảm giá, mà sau khi tỷ lệ % giảm giá được áp vào sẽ làm giảm đơn giá VK kim loại nhà thầu đã chào về bằng đơn giá VK kim loại mà THanh tra tính toán lại thì cần xem xét ko cắt giảm QT của Nhà thầu.
Trường hợp là HĐ trọn gói thì việc cắt của Nhà thầu là không hợp lý vì CĐT là xem xét hồ sơ dự thầu và chấm chọn nhà thầu theo đúng trình tự. Nhà thầu cũng thi công đảm báo chất lượng nên thanh toán đúng giá trị trong Hợp đồng là ok. Nếu xử lý cắt giảm trường hợp này thì CHủ đầu tư phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên điều này cũng chỉ được quy định rõ sau khi đã có Luật đấu thầu (Như bài viết Những lưu ý khi thực hiện HĐ trọn gói của tôi trên blog)
Hy vọng những giải đáp của tôi giúp bạn phần nào!
Trân trọng!

Một số câu hỏi liên quan đến đấu thầu, xử lý hồ sơ dự thầu …

Một số bạn có tên Phương Hằng, Khánh Nguyên có gửi cho Lê Vinh một số câu hỏi như sau, xin được đăng tải lên đây để mọi người có thể cùng tham khảo. Câu trả lời mang tính chủ quan trong tầm hiểu biết của LV, chỉ khuyến khích các bạn tham khảo và có thể cùng thảo luận!

Câu hỏi 1: Có một hồ sơ mời thầu chào thầu 2 công tác cừ như sau:

1. Đóng cọc ván thép : 69,78 (100m)

2. Sản xuất cừ : 34,438 (tấn)

Biết cừ là cừ IV, gồm 2 loại là 7m và 8m. Chiều sâu đóng cừ từ 3,6~4,1m. Chu vi tường cừ là 581m

Em muốn hỏi: KL cừ như vậy tính chuẩn chưa, vì em thấy khối lượng sản xuất cừ có vẻ hơi ít? có việc gì phải lưu ý với công tác cừ như trên hay không? Liệu cách tính sản xuất cừ sẽ như thế nào? Tính thuê cừ liệu có ổn không?

LV có câu trả lời như sau:

1, Việc bóc tách để tính lại KL thừa thiếu là việc của em nhé

Anh thử gợi ý thế này xem đúng ko:

Chu vi tường cừ: 581m=> Số thanh cừ phải đóng: 581/0,4 = 1453 cọc cừ

Chiều sâu phải đóng, giả sử 8m=> KL cừ: 1453*8= 11.624m cừ

Lưu ý: Ép cừ ko ép hết chu vi đâu nhé, phải trừ lối lên xuống cho ô tô chở đất và máy đào lên xuống nhé! Do vậy có khi em tính chưa chuẩn

2, Có công tác đóng nhớ còn phải có công tác nhổ cừ nữa nhé, với công tác cừ em chỉ nêu 2 đầu việc đó là chưa đủ

3, Về sản xuất cừ:

Về KL cừ theo tiên lượng anh đoán là KL người ta đã tính đến khấu hao, tức 34,38 tấn đó là KL cừ đã được tính theo công thức khấu hao

Thử tính theo cảm tính của mình có đúng ko nhé: Giả sử cừ nằm trong đất 2,5 tháng:

KL cừ = 6978*76*(1,17%*2,5+3,5%)=34,3 tấn (76 là trọng lượng riêng của cừ trên 1m nhé, công thức này được xác định theo quy định của ĐM 1776)

Và như vậy em chỉ cần tính hao phí tiền SX cừ:

Hao phí tiền mua và sx cừ:  34,3*23,3 triệu = 799 triệu

3.b- Tính theo giá thuê (chắc chắn có lợi hơn)

= 6978m*1,700 đ/m.ng.đ*2,5*30 ng.đ= 890 triệu

Tuy nhiên: Ở đây người ta muốn nhà thầu chào theo kiểu mua cừ, tính khấu hao nên đã để tiên lượng là SX cừ.

Thi công ép cừ còn nhiều công tác đính kèm như hệ thống chống cừ, thang lên xuống, quan trắc chuyển vị vv… nên cần chào thầu cho phù hợp, nếu không sẽ còn tính thiếu nhiều khoản chi phí. Ảnh: T.Tuấn

Câu hỏi 2: Bên mời thầu chào công tác

Bơm nước tạo mặt bằng thi công là 19,09 ca, không có khối lượng nước cần bơm

Vậy tính công tác này như thế nào ạ?

Trả lời: Đây là khi lập dự toán, họ coi công tác bơm nước là công tác TT theo giá ca máy. Khi chào thầu em làm thế này:

Mã hiệu: TT hoặc CM.190.GCMHN (Ví dụ máy có số thứ tự 190 trong Bảng GCM HN là 1 cái máy bơm có công suất xx gì đó)

Sau đó cứ lắp giá ca máy theo Bảng giá ca máy HN vào là ok thôi!

Câu hỏi 3: Hồ sơ thầu có tiên lượng vận chuyển đi 20km

Em có đọc bài hướng dẫn của anh trên Gxd có nói phần hệ số bù nhưng em chưa hiểu lắm. 

1. Một chị chỗ em tính như thế này: khối lượng chào thầu là 4221(100m3)

    Khôi lượng vận chuyển <1km là 4221

    Khôi lượng vận chuyển <=7km là 4221*6=25326

    Khôi lượng vận chuyển >7km là 4221*(20-7)=84420

 Như vậy co đúng ko ạ?

2. Em xem trong một số dự toán thì các công tác vận chuyển này khối lượng vẫn giữ nguyên ở cả 3 mức <1km, <=7km và >7km

Vậy tính thế nào mới là đúng ạ?

Lê Vinh trả lời bạn như sau:

Nhân số cự ly vận chuyển vào khối lượng như chị kia là sai em à, vì bản chất khối lượng không tăng theo cự ly vận chuyển

Em chỉ được nhân vào định mức (hoặc đơn giá thôi)

Với cung đường vận chuyển như trên, em tham khảo quy định công thức tính tại thuyết minh chương II -Công tác đất- ĐM 1776, với cự ly L>7km:

ĐM vận chuyển = Đm1 + Đm4 *6+Đm *(L-7)

Với 20km = 1+ 6 + 13, những con số 6 và 13 được nhân với đơn giá tương ứng.

Câu hỏi 4: Dự toán gói thầu tính ra một lượng lớn ca máy ủi có công suất 108CV. Vậy trong hồ sơ mời thầu có cần yêu cầu rõ ràng nhà thầu có bao nhiêu máy đào công suất 108CV không anh? Việc quy định này nhằm mục đích gì?

            Giả sử hồ sơ thầu quy định nhà thầu phải có 6 máy ủi công suất 108CV, tuy nhiên khi chào thầu nhà thầu lại chào có 9 máy ủi 75CV. Vậy có chấp nhận được không?

LV trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Việc dự toán tính ra công suất 108CV cũng chỉ là tạm tính, thực tế thi công sẽ do biện pháp nhà thầu và quy mô gói thầu, điều kiện thi công gói thầu quyết định. Do vậy khi yêu cầu trong hồ sơ mời thầu nên quy định mở: Ví dụ nhà thầu phải có tối thiểu 5 máy ủi 108CV hoặc 8 máy ủi 75CV chẳng hạn. Việc quy định như vậy nhằm mục đích lựa chọn nhà thầu có năng lực thực sự (ở đây là năng lực về thiết bị thi công). Ví dụ nhà thầu A chuyên thi công về các công trình dân dụng, họ ít có máy ủi, vậy muốn đáp ứng yêu cầu gói thầu họ phải đi thuê (ký HĐ nguyên tắc để bổ sung vào HS dự thầu).

Ở câu hỏi về việc yêu cầu máy ủi công suất 108CV nhưng nhà thầu chào máy ủi 75CV, phải xem đây có phải là yêu cầu tiên quyết ko đã. Nếu là tiên quyết thì đương nhiên nhà thầu sẽ bị loại, tuy nhiên thường đây ko thể là điều kiện tiên quyết, do vậy việc chấm điểm trong đánh giá kỹ thuật của nhà thầu này sẽ bị thấp hơn mà thôi.

Câu hỏi 5:  Khi chào thầu và trúng thầu, đơn giá nhà thầu là chào máy đào có dung tích gầu 1,25m3. Tuy nhiên khi thi công nhà thầu dùng máy đào 0,8m3, vậy sẽ thanh toán cho nhà thầu theo đơn giá 0,8m3 hay 1,25mm3. Câu hỏi tương tự với các thiết bị thi công khác?

Thi công có thể khác với biện pháp đã chào thầu nhưng cần được sự đồng ý của Tư vấn giám sát cũng như Chủ đầu tư và quan trọng là đảm bảo chất lượng công trình. Ảnh: T.Tuấn

LV trả lời bạn như sau: Việc thi công trong thực tế có thể khác với biện pháp thi công mà nhà thầu đã chào, và việc này sẽ được sự chấp nhận của Tư vấn giám sát cũng như Chủ đầu tư, miễn sao hạng mục công việc đó vẫn đảm bảo chất lượng và được nghiệm thu. Còn việc thanh toán, theo mình sẽ xử lý tùy theo hình thức đơn giá hợp đồng, cụ thể:

–         Với đơn giá cố định và đơn giá trọn gói: Vẫn thanh toán theo đơn giá đã chào thầu mà không quan tâm nhà thầu dùng máy loại nào và công suất bao nhiêu.

–         Với đơn giá điều chỉnh: Thanh toán theo thực tế nghiệm thu, tức trường hợp trên phải thanh toán theo máy có công suất 0,8m3, tuy nhiên trong trường hợp thấy đơn giá theo máy thi công thực tế cao hơn do việc thay đổi loại máy, Chủ đầu tư có thể xử lý bằng cách cho thanh toán theo đơn giá đã chào thầu.

3 Phương pháp bù giá ca máy phổ biến hiện nay

Theo LV, hiện tại có thể phân ra 3 phương pháp bù giá ca máy, cụ thể:

1, Bù theo hướng dẫn của Thông tư 06/2010/TT-BXD:

Công thức: Bù GCM = Gcmđc – Gcm gốc

Trong đó Giá ca máy điều chỉnh được tính theo công thức:

GCMĐC = (CKH + CSC + CCPK) *K1  + CNL*K2  +  CTL*K3  (đ/ca)

Cch, Csc, Ccpk, Cnl, Ctl theo như bảng giá ca máy gốc

K1 = Nguyên giá hiện tại/Nguyên giá gốc

K2 = Giá nhiên liệu, năng lượng hiện tại/ Giá NL,NL gốc

K3= Chi phí tiền lương hiện tại/ Chi phí tiền lương gốc

Đánh giá: Phương pháp này ít được dùng vì khi ban hành giá ca máy, các tỉnh ít khi công bố đủ cả Ckh, Csc, Ccpk. Tuy nhiên nếu coi như việc nguyên giá ko đổi (k1 =1) thì phương pháp này vẫn dùng tốt và khá dễ dùng.

 

2, Bù theo phương pháp bù trực tiếp (tính Bù NL + Bù Tiền lương)

Công thức: Bù GCM (hay CLMTC) = Ccmđc – C cm gốc

Trong đó Chi phí máy điều chỉnh được tính theo công thức:

CCMĐC =  CCM GỐC + C NL  +  C TL  (đ/ca)

CBù NL=  ĐM tiêu hao nhiên liệu  *  (Giá NL hiện tại  – Giá NL gốc) *Kp    (đ/ca)

Ví dụ: Ô tô tự đổ 10T có ĐM tiêu hao dầu diezel là 56,7 lít/ca

Giá diezel gốc là 8.000; Giá diezel hiện nay là 19.000 đ/lít

C NL = 56,7*(19.000-8.000)*1,05 = 654.885 đồng/ca

n

CTL   =  Tổng  Ni . (CTLi hiện tại  -CTLi gốc )     (đồng /ca)

i=1

Ví dụ: Một máy ủi 105CVcó 2 thợ điều khiển, 1 thợ bậc 3/7,

1 thợ bậc 5/7. Giá nhân công gốc 3/7 là 45.000, 5/7 là 60.000;

Giá nhân công thời điểm hiện tại 3/7 là 145.000, 5/7 là 180.000

CTL= 1*(150k-45k) + 1*(180k-60k) = 115k+120k = 235k

Đánh giá: Sử dụng PP này phù hợp với các tỉnh không ra hoặc chưa ra hệ số điều chỉnh, cũng phù hợp với Chủ đầu tư có nguồn vốn ngoài ngân sách, việc điều chỉnh do Chủ đầu tư tự quyết và dễ dàng chia theo các thời điểm phù hợp với việc biến đổi về giá tiền lương, nhiên liệu năng lượng

Thi công các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật luôn có số ca máy đào đắp lớn và việc bù giá ca máy theo sự biến động của giá nhiên liệu, năng lượng là việc cần thiết cho nhà thầu. Ảnh: Vinahud

3, Phương pháp kết hợp hệ số điều chỉnh + Chi phí bù nhiên liệu

Công thức: Bù GCM (hay CLMTC) = C mtc (gốc) *Kđ/c  + C bù TL

Trong đó : Kđ/c là hệ số do các tỉnh ban hành, thường hệ số này chỉ điều chỉnh do lương tối thiểu thay đổi. Ví dụ hệ số như các quyết định 4462/2010 hay 4602/2011 của thành phố Hà Nội chẳng hạn.

Chi phí chênh lệch Nhiên liệu năng lượng được tính theo công thức:

CBù NL=  ĐM tiêu hao nhiên liệu  *  (Giá NL hiện tại  – Giá NL gốc) *Kp    (đ/ca)

Đánh giá: Sử dụng PP này phù hợp với các tỉnh chỉ ban hành hệ số điều chỉnh thay đổi về tiền lương thợ lái máy do thay đổi lương tối thiểu (ví dụ như Hà Nội) nhưng không hướng dẫn cụ thể việc bù nhiên liệu năng lượng. Phương pháp bù nhiên liệu năng lượng như phương pháp 2 ở trên, khá dễ hiểu và dễ được các cơ quan ban ngành kiểm tra đồng ý.

Hỏi đáp liên quan quản lý chi phí

Câu hỏi (của một bạn có email cauongtroi113@):

Em đang kiểm toán 1 công trình, em kiểm tra thì có 2 vấn đề sau:

1. Theo đơn giá dự thầu ( hợp đồng điều chỉnh theo đơn giá), thì ví dụ lương nhân công nhóm 2 bậc 3/7 của nó là 59000 đ, nhưng khi e áp lại theo bảng lương A1.8 công với các phụ cấp kèm theo thì ra chỉ 57000. trong khi các chi phí trực tiếp phí, chi phí chung, nhà thầu để giảm hơn so với thông tư. Em trao đổi với BQL thì họ bảo là đã trúng thầu rồi thì đành chấp nhận, hơn nữa khi họ giảm các chi phí đó thì tăng nhân công thì kệ, miễn là đơn giá cho công tác đó giảm hơn so với mình chiết tính là dc. Theo em thì mình phải tính lại theo lương 57000, và áp dụng đúng hệ số theo quy đinh (trục tiếp phí, CPC…), để sau đó bù giá.
2. Chi phí lán trại trong hồ sơ dự thầu là 3.3%, trong khi theo quy định thì tối đa là 2%, nếu thấy ko phù hợp thì lập dự toán riêng cho lán trại. BQL cũng lại giải thích như ý 1 em nêu, miễn là không vượt tổng mức đầu tư phê duyệt là dc. Em thấy vô lý mà chưa biết giải thích rõ ràng thế nào cả.
Levinhxd xin được có ý kiến trả lời như sau:
Trước khi đưa ra một giải pháp xử lý giúp bạn, mình sẽ tóm lược một số vấn đề ngắn gọn liên quan đến đấu thầu thế này:

1, Giá chào thầu bao nhiêu, thế nào (cao hay thấp) là quyền của nhà thầu miễn đáp ứng các điều kiện sau:
– Giá hợp lý với giá thị trường (cái này khó biết thế nào là HL), đọc tiếp:
– Nếu có sự khác thường (cao hay thấp quá), Bên mời thầu sẽ yêu cầu Nhà thầu làm rõ bằng 1 văn bản làm rõ HSDT, nếu giá đó được Nhà thầu giải thích hợp lý (có sự chứng minh hoặc khảo sát của CĐT hoặc bên chấm thầu), thì giá đó được chấp nhận. Nếu Nhà thầu ko   giải thích được, giá đó được coi là sai số và cần được hiệu chỉnh. Tham khảo: Khoản 5- Điều 70 – Nghị định 85/2009 của CP
– Việc chào giá thầu ko được vi phạm pháp luật, ví dụ: Thuế VAT là 10% nhưng lại chào thầu có 8%

Nhà thầu có thể chào thầu với giá riêng phù hợp với HSMT và các ĐM tỷ lệ chi phí theo mức độ quản lý doanh nghiệp của họ, miễn là không được bất thường và trái pháp luật. ảnh: LV

2, Như vậy ở gói thầu trên, Nhà thầu chào thầu giá nào cũng được, Tuy nhiên khi chấm thầu, Chủ đầu tư (bên mời thầu) nếu thấy có sự khác thường thì yêu cầu giải thích, nếu nhà thầu ko giải thích phù hợp thì hồ sơ sẽ cần phải xem xét hiệu chỉnh:
Ví dụ: Lán trại mà 3,3% của CPXD sau thế là khác thường, vì vậy cần phải yêu cầu làm rõ. Trường hợp Nhà thầu ko giải thích được thì CĐT sẽ ép về 1% (với công trình thông thường) và 2% (với công trình theo tuyến kéo dài)
3, Ngoài ra ở trường hợp trên, còn cần phải xem xét Hợp đồng điều chỉnh ở những trường hợp nào và phương pháp điều chỉnh ra sao. Cái này khi soạn HĐ nhà thầu và chủ đầu tư ít đàm phán kỹ và đến lúc gặp những vướng mắc hoặc tranh chấp sẽ rất khó xử lý!
Đề xuất của mình với trường hợp trên:
– CHi phí vật liệu: bù trừ trực tiếp, Chi phí nhân công có thể dùng bù trừ trực tiếp hoặc điều chỉnh hệ số, máy thi công cũng vậy
– Chi phí tính theo % (TTPK, CPC, ….) áp theo hệ số nhà thầu đã chào nếu ko có bất thường
– Lán trại áp theo quy định TT04.2010 hoặc phải lập theo Dự toán như bạn đã nêu
Thân chào!

(Đề xuất) Điều chỉnh dự toán khi lương tối thiểu chung tăng lên 1.050.000 đồng

Về việc lương công nhân, mình vẫn giữ quan điểm phải tính theo lương tối thiểu vùng mới công bằng ( xem chủ đề tranh luận tại đây và bài viết về phân biệt Luơng TT chung và Lương TT vùng ở dưới). Tuy nhiên, với TP Hà Nội ra Đơn giá 2011 trong đó đã quy định:
– Phụ cấp lưu động được tính theo 20% lương tối thiểu chung
– Lương phụ = 12% lương TT vùng, cp khoán = 4% lương TT vùng (Cái này thì sai lè lè mà ko đính chính này). Đúng ra Lương phụ, phép = 12% lương Cấp bậc (Lương TT vùng *hệ số cấp bậc), Cp khoán = 4% Lương Cấp bậc.

Vì vậy ta phải có điều chỉnh dự toán khi Lương TT chung thay đổi là tất yếu!
Cụ thể, Đơn giá quy định: Phụ cấp lưu động = 20% Lương TT chung.
Bây giờ lương TT chung tăng lên 1.050.000 đ/tháng (Nghị định 31/2012 thay cho NĐ 22/2011) vậy thì phải được điều chỉnh dự toán nếu Dự toán đó xài Đơn giá 2011 của TP Hà Nội
Lê Vinh xin đề xuất điều chỉnh như sau:
1, Tính Bảng giá nhân công rồi bù trừ trực tiếp (Tính CL nhân công)
Các bạn tính Bảng giá nhân công như trong Phần mềm DỰ toán GXD
Trong đó chế độ chính sách như quy định ở trên, cụ thể với vùng 1:
– Phụ cấp lưu động = 20%*1050.000 đ
– Lương phụ = 12%* Lương CB = 12%*2000.000*hệ số cấp bậc
– Lương khoán TT = 4%%* Lương CB = 4%*2000.000*hệ số cấp bậc
Lương ngày = (Lương Cấp bậc + Tổng Phụ cấp, Phụ, Khoán )/26
Sau khi tính được giá nhân công mới, các bạn tiến hành bù trừ nhân công như chênh lệch vật liệu vẫn hay tính

2, Thử tính hệ số nhân công điều chỉnh

TÍnh hệ số thì cũng phải tính nhân công mới theo lương TT chung 1.050.000k
Và Lê Vinh đã thử tính cho bảy bậc nhân công nhóm I ở bảng excel đính kèm ở dưới
Kết quả, hệ số điều chỉnh nhân công cho cả vùng I và vùng II đều ở vào khoản: 1,007
Đề xuất hệ số điều chỉnh làm tròn: Knc= 1,01
Bảng nhân công excel đính kèm có tham khảo PM Dự toán GXD, được tính trong thời gian ngắn nên có thể có những chỗ chưa đúng, nếu các bạn phát hiện ra Lê Vinh mong sự góp ý! Thân !

Link download file: http://www.4shared.com/office/3saY-qx6/Bang_nhan_cong_va_de_xuat_HS_d.html

Câu hỏi về Thanh Quyết toán và Đấu thầu:

Một bạn có hòm thư ksxd.duonghai@…. có hỏi về việc thanh toán HĐ điều chỉnh giá như sau:

Ví dụ có 1 hợp đồng đơn giá điều chỉnh cho 1 gói gồm: cọc khoan nhồi, tường barret, móng, …….
E  đã thi công xong giai đoạn phần cọc khoan nhồi, tường barret
Trong thực tế:
1. KL thực tế thi công (có kl của đầu mục công việc lớn hơn khối lượng theo HĐ, có kl của đầu mục lại nhỏ hơn KL  theo HĐ)
2. Đã thanh toán được 2 đợt với Khối lượng thanh toán theo thiết kế( chủ trương thanh toán của CĐT)
Nay CĐT đưa phần kl chênh giữa thực tế thi công và KL thanh toán theo thiết kế của 2 đợtthanh toán trên thành KL phát sinh vậy theo anh là đúng hay sai(các đầu việc thanh toán theo đúng hợp đồng)
Ghi chú:
Đã ký Biên bản bàn giao giai đoạn thi công
Lê Vinh có ý kiến trả lời bạn như sau:
Vấn đề là HĐ đơn giá điều chỉnh, tức:

– KL theo KL thực tế thi công
– Đơn giá theo thời điểm nghiệm thu
Vậy những KL đầu việc mà đã có trong Hồ sơ thiết kế ko thể gọi là KL PS được
KLPS chỉ xảy ra khi:
– CHủ đầu tư thay đổi thiết kế làm tăng giảm KL (ví dụ tăng từ 8 lên 10 cột, giảm từ 22 xuống 22 dầm…)
– Chủ đầu tư đầu tư thêm hạng mục mới (Ví dụ: nhà để xe, sân vườn, thêm nhà vệ sinh vv…)
Nói chung bạn cần tìm những khái niệm về KLPS và giải thích cho CĐT hiểu trong trường hợp này
Trường hợp thanh toán của bạn:
– Các đợt đã TT gọi là tt KL hoàn thành (TT nhanh)-> TT theo đúng KL và ĐG HĐ
– Đã có BB BGGĐ thì bây giờ sắp làm là TT giai đoạn hoặc Quyết toán luôn, và theo KL thực tế và Đơn giá thời điểm nghiệm thu
Chúc bạn thành công!
Một bạn có hòm thư: thanhts.hn@………..có hỏi như sau:
Em chào thầy, em là học viên lớp Lập  Hồ sơ thanh quyết toán ở bên công ty Giá Xây dựng
thầy ơi cho e hỏi trong nghị định 85, điều 40 quy định về chỉ định thầu với gói thầu xây lắp là giá gói thầu < 5 tỷ e vẫn chưa hiểu là giá gói thầu ở đây là giá trị xây lắp(chi phí xây dựng) sau thuế hay  giá này là tổng mức đầu tư(bao gồm các chi phí như :quản lý dự án, tư vấn giám sát, thiết kê….)? thầy giải thích cho em với, em cám ơn thầy
Lê Vinh xin có ý kiến trả lời bạn như sau:
Đã là gói thầu thì chỉ một khoản mục chi phí nào đó thôi em

ví dụ:
– Gói thầu xây lắp phần móng thì chỉ các chi phí XD phần mòng (Gxd móng)
– Gói thầu tư vấn giám sát phần thân thô (Thì chỉ là Gtvgs thân thô)
– Gói thầu bảo hiểm công trình thì chỉ là Bảo hiểm thôi
Em nhầm giữa Tổng mức đầu tư, Tổng dự toán với Giá trị gói thầu rồi
Giá trị gói thầu này lấy theo Kế hoạch đấu thầu, KHĐT xây dựng dựa trên các khoản mục chi phí trong tổng dự toán (nếu đã có) hoặc TMĐT (nếu chưa có Tổng dự toán) em nhé!
Chúc em thành công!

Những điều cần lưu ý khi thực hiện hợp đồng trọn gói

(Bài viết đăng trên tờ Thông tin Kinh tế xây dựng – số 2/2011 của Viện Kinh tế xây dựng – Bộ xây dựng)
Theo Luật đấu thầu 2003 và nghị định 85/2009 về hướng dẫn đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo luật xây dựng thì “Hình thức trọn gói được áp dụng cho những phần công việc được xác định rõ về số lượng, khối lượng. Giá hợp đồng không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu bằng đúng giá ghi trong hợp đồng khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng”.
Theo Nghị định 48/2010 hướng dẫn về Hợp đồng xây dựng “Giá hợp đồng trọn gói là giá hợp đồng không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng đối với khối lượng các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết”.
Như vậy ta thấy Luật và các nghị định của Chính phủ quy định rõ ràng: Hợp đồng trọn gói là trọn gói về cả khối lượng và giá trị. Vậy khi thực hiện loại hình hợp đồng này có thể có nhiều vướng mắc xảy ra gây lúng túng cho cả Chủ đầu tư và nhà thầu, chúng ta cần điểm qua một số điểm cần lưu ý khi áp dụng hình thức hợp đồng này.

Khối lượng cần được tính toán chính xác trước khi ký hợp đồng
Theo quy định tại Mục 2 Điều 48- Nghị định 85/2009 “Đối với công việc xây lắp, trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt, nếu nhà thầu (bao gồm cả nhà thầu được chỉ định thầu) hoặc bên mời thầu phát hiện bảng khối lượng công việc bóc tách từ thiết kế chưa chính xác, bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc bổ sung khối lượng công việc để bảo đảm phù hợp với thiết kế. Đối với công việc xây lắp này, sau khi hợp đồng theo hình thức trọn gói được ký kết, khối lượng công việc thực tế nhà thầu đã thực hiện để hoàn thành theo thiết kế (nhiều hơn hay ít hơn khối lượng công việc nêu trong hợp đồng) không ảnh hưởng tới số tiền thanh toán cho nhà thầu”, “Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tính chính xác của số lượng, khối lượng công việc. Trường hợp có thất thoát xảy ra (do tính toán sai số lượng, khối lượng công việc) thì cá nhân, tổ chức thuộc chủ đầu tư làm sai có trách nhiệm đền bù và xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, lập dự toán có quy định về việc xử lý đối với việc tính toán sai số lượng, khối lượng công việc thì chủ đầu tư được đền bù theo thỏa thuận trong hợp đồng với nhà thầu tư vấn này”
Như vậy hình thức hợp đồng trọn gói chỉ nên áp dụng cho các gói thầu có khối lượng công việc có thể xác định chính xác ngay trước khi thực hiện, đặc biệt với các gói thầu xây lắp, vì sau này khối lượng đó được làm căn cứ thanh toán cho nhà thầu mà không cần phải tính toán lại trừ khi có phát sinh thêm khối lượng ngoài thiết kế. Hiện nay có một số trường hợp nhà thầu vẫn bị đơn vị thanh tra kiểm toán cắt các khối lượng mà khi thi công xong tính toán lại được coi là thấp hơn so với khối lượng trong hợp đồng, thiết nghĩ điều này là sai với quy định đã được trích dẫn ở trên. Việc thất thoát khối lượng hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của Chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn.

Điều chỉnh khối lượng và đơn giá khi nào?
Mặc dù được coi là trọn gói và cố định nhưng trong trường hợp bất khả kháng thì hợp đồng sẽ cần có thỏa thuận cụ thể, tức là những tình huống thực tiễn xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát và khả năng lường trước của chủ đầu tư, nhà thầu, không liên quan đến sai phạm hoặc sơ xuất của chủ đầu tư, nhà thầu, như: chiến tranh, bạo loạn, đình công, hỏa hoạn, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, cách ly do kiểm dịch, cấm vận..
Ngoài ra với tường hợp khối lượng phát sinh ngoài thiết kế thì được quy định rõ trong Điều 35- Nghị định 48/2010: “Trường hợp có phát sinh hợp lý những công việc ngoài phạm vi hợp đồng đã ký (đối với hợp đồng thi công xây dựng là khối lượng nằm ngoài phạm vi công việc phải thực hiện theo thiết kế; đối với hợp đồng tư vấn là khối lượng nằm ngoài nhiệm vụ tư vấn phải thực hiện). Trường hợp này, khi điều chỉnh khối lượng mà không làm thay đổi mục tiêu đầu tư hoặc không vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu tính toán, thỏa thuận và ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng; trường hợp làm vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt thì phải được Người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định; trường hợp thỏa thuận không được thì khối lượng các công việc phát sinh đó sẽ hình thành gói thầu mới, việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu này theo quy định hiện hành”.

Thực hiện hợp đồng trọn gói luôn ẩn chứa nhiều rủi ro

Hồ sơ thanh toán hợp đồng trọn gói
Tại điều 48 nghị định 85/2009 quy định: việc thanh toán hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng. Tổng số tiền mà chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu cho đến khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng. Nếu trường hợp bất khả kháng quy định trong hợp đồng xảy ra thì thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Hoặc tại điều 18 Nghị định 48/2010 “Thanh toán theo tỷ lệ phần trăm giá hợp đồng hoặc giá công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc tương ứng với các giai đoạn thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, khi thanh toán không đòi hỏi có xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết”. Tại điều 19 của Nghị định 48/2010 cũng quy định rất rõ về thành phần hồ sơ thanh toán hợp đồng trọn gói. Tương tự tại khoản 2 Điều 58 Nghị định 85/2009 cũng quy định việc không cần xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết trong biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành.
Một điều đáng chú ý và gây nhiều thắc mắc cho nhà thầu đó chính là việc kiểm tra hóa đơn chứng từ khi thanh quyết toán hợp đồng trọn gói, theo đó liệu nhà thầu có bị đối trừ phần giá trị do giá hóa đơn mua vật tư thấp hơn so với giá vật tư được chiết tính kèm hợp đồng, hoặc trường hợp định mức đơn giá trong hợp đồng trọn gói khác với định mức nhà nước công bố thì khi quyết toán hay kiểm toán có phải điều chỉnh lại?
Điều này cũng được Nghị định 85/2009 quy định rõ “Đối với nhà thầu được lựa chọn thông qua các hình thức lựa chọn nhà thầu trừ hình thức chỉ định thầu, việc thanh toán phải căn cứ vào giá hợp đồng và các điều khoản thanh toán nêu trong hợp đồng, không căn cứ theo dự toán cũng như các quy định, hướng dẫn hiện hành của Nhà nước về định mức, đơn giá; không căn cứ vào đơn giá trong hóa đơn tài chính đối với các yếu tố đầu vào của nhà thầu như vật tư, máy móc, thiết bị và các yếu tố đầu vào khác”
Qua một số quy định trên về hợp đồng trọn gói, chúng ta có thể thấy với khối lượng công việc xây lắp nếu thực hiện theo hình thức này thì đòi hỏi việc tính toán khối lượng ban đầu phải hết sức cẩn thận, chính xác đến từng chi tiết. Ngoài ra, với sự biến động giá nguyên nhiên liệu, vật liệu hết sức khó lường như trong giai đoạn hiện nay thì việc áp dụng hình thức hợp đồng trọn gói cũng là một rủi ro đối với nhà thầu và chính Chủ đầu tư. Do vậy cần có sự cân nhắc kỹ càng trước khi phê duyệt hình thức hợp đồng trong kế hoạch đấu thầu của Chủ đầu tư các dự án.

Lê Vinh – Công ty HUD3