Một số câu hỏi liên quan đến đấu thầu, xử lý hồ sơ dự thầu …

Một số bạn có tên Phương Hằng, Khánh Nguyên có gửi cho Lê Vinh một số câu hỏi như sau, xin được đăng tải lên đây để mọi người có thể cùng tham khảo. Câu trả lời mang tính chủ quan trong tầm hiểu biết của LV, chỉ khuyến khích các bạn tham khảo và có thể cùng thảo luận!

Câu hỏi 1: Có một hồ sơ mời thầu chào thầu 2 công tác cừ như sau:

1. Đóng cọc ván thép : 69,78 (100m)

2. Sản xuất cừ : 34,438 (tấn)

Biết cừ là cừ IV, gồm 2 loại là 7m và 8m. Chiều sâu đóng cừ từ 3,6~4,1m. Chu vi tường cừ là 581m

Em muốn hỏi: KL cừ như vậy tính chuẩn chưa, vì em thấy khối lượng sản xuất cừ có vẻ hơi ít? có việc gì phải lưu ý với công tác cừ như trên hay không? Liệu cách tính sản xuất cừ sẽ như thế nào? Tính thuê cừ liệu có ổn không?

LV có câu trả lời như sau:

1, Việc bóc tách để tính lại KL thừa thiếu là việc của em nhé

Anh thử gợi ý thế này xem đúng ko:

Chu vi tường cừ: 581m=> Số thanh cừ phải đóng: 581/0,4 = 1453 cọc cừ

Chiều sâu phải đóng, giả sử 8m=> KL cừ: 1453*8= 11.624m cừ

Lưu ý: Ép cừ ko ép hết chu vi đâu nhé, phải trừ lối lên xuống cho ô tô chở đất và máy đào lên xuống nhé! Do vậy có khi em tính chưa chuẩn

2, Có công tác đóng nhớ còn phải có công tác nhổ cừ nữa nhé, với công tác cừ em chỉ nêu 2 đầu việc đó là chưa đủ

3, Về sản xuất cừ:

Về KL cừ theo tiên lượng anh đoán là KL người ta đã tính đến khấu hao, tức 34,38 tấn đó là KL cừ đã được tính theo công thức khấu hao

Thử tính theo cảm tính của mình có đúng ko nhé: Giả sử cừ nằm trong đất 2,5 tháng:

KL cừ = 6978*76*(1,17%*2,5+3,5%)=34,3 tấn (76 là trọng lượng riêng của cừ trên 1m nhé, công thức này được xác định theo quy định của ĐM 1776)

Và như vậy em chỉ cần tính hao phí tiền SX cừ:

Hao phí tiền mua và sx cừ:  34,3*23,3 triệu = 799 triệu

3.b- Tính theo giá thuê (chắc chắn có lợi hơn)

= 6978m*1,700 đ/m.ng.đ*2,5*30 ng.đ= 890 triệu

Tuy nhiên: Ở đây người ta muốn nhà thầu chào theo kiểu mua cừ, tính khấu hao nên đã để tiên lượng là SX cừ.

Thi công ép cừ còn nhiều công tác đính kèm như hệ thống chống cừ, thang lên xuống, quan trắc chuyển vị vv… nên cần chào thầu cho phù hợp, nếu không sẽ còn tính thiếu nhiều khoản chi phí. Ảnh: T.Tuấn

Câu hỏi 2: Bên mời thầu chào công tác

Bơm nước tạo mặt bằng thi công là 19,09 ca, không có khối lượng nước cần bơm

Vậy tính công tác này như thế nào ạ?

Trả lời: Đây là khi lập dự toán, họ coi công tác bơm nước là công tác TT theo giá ca máy. Khi chào thầu em làm thế này:

Mã hiệu: TT hoặc CM.190.GCMHN (Ví dụ máy có số thứ tự 190 trong Bảng GCM HN là 1 cái máy bơm có công suất xx gì đó)

Sau đó cứ lắp giá ca máy theo Bảng giá ca máy HN vào là ok thôi!

Câu hỏi 3: Hồ sơ thầu có tiên lượng vận chuyển đi 20km

Em có đọc bài hướng dẫn của anh trên Gxd có nói phần hệ số bù nhưng em chưa hiểu lắm. 

1. Một chị chỗ em tính như thế này: khối lượng chào thầu là 4221(100m3)

    Khôi lượng vận chuyển <1km là 4221

    Khôi lượng vận chuyển <=7km là 4221*6=25326

    Khôi lượng vận chuyển >7km là 4221*(20-7)=84420

 Như vậy co đúng ko ạ?

2. Em xem trong một số dự toán thì các công tác vận chuyển này khối lượng vẫn giữ nguyên ở cả 3 mức <1km, <=7km và >7km

Vậy tính thế nào mới là đúng ạ?

Lê Vinh trả lời bạn như sau:

Nhân số cự ly vận chuyển vào khối lượng như chị kia là sai em à, vì bản chất khối lượng không tăng theo cự ly vận chuyển

Em chỉ được nhân vào định mức (hoặc đơn giá thôi)

Với cung đường vận chuyển như trên, em tham khảo quy định công thức tính tại thuyết minh chương II -Công tác đất- ĐM 1776, với cự ly L>7km:

ĐM vận chuyển = Đm1 + Đm4 *6+Đm *(L-7)

Với 20km = 1+ 6 + 13, những con số 6 và 13 được nhân với đơn giá tương ứng.

Câu hỏi 4: Dự toán gói thầu tính ra một lượng lớn ca máy ủi có công suất 108CV. Vậy trong hồ sơ mời thầu có cần yêu cầu rõ ràng nhà thầu có bao nhiêu máy đào công suất 108CV không anh? Việc quy định này nhằm mục đích gì?

            Giả sử hồ sơ thầu quy định nhà thầu phải có 6 máy ủi công suất 108CV, tuy nhiên khi chào thầu nhà thầu lại chào có 9 máy ủi 75CV. Vậy có chấp nhận được không?

LV trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Việc dự toán tính ra công suất 108CV cũng chỉ là tạm tính, thực tế thi công sẽ do biện pháp nhà thầu và quy mô gói thầu, điều kiện thi công gói thầu quyết định. Do vậy khi yêu cầu trong hồ sơ mời thầu nên quy định mở: Ví dụ nhà thầu phải có tối thiểu 5 máy ủi 108CV hoặc 8 máy ủi 75CV chẳng hạn. Việc quy định như vậy nhằm mục đích lựa chọn nhà thầu có năng lực thực sự (ở đây là năng lực về thiết bị thi công). Ví dụ nhà thầu A chuyên thi công về các công trình dân dụng, họ ít có máy ủi, vậy muốn đáp ứng yêu cầu gói thầu họ phải đi thuê (ký HĐ nguyên tắc để bổ sung vào HS dự thầu).

Ở câu hỏi về việc yêu cầu máy ủi công suất 108CV nhưng nhà thầu chào máy ủi 75CV, phải xem đây có phải là yêu cầu tiên quyết ko đã. Nếu là tiên quyết thì đương nhiên nhà thầu sẽ bị loại, tuy nhiên thường đây ko thể là điều kiện tiên quyết, do vậy việc chấm điểm trong đánh giá kỹ thuật của nhà thầu này sẽ bị thấp hơn mà thôi.

Câu hỏi 5:  Khi chào thầu và trúng thầu, đơn giá nhà thầu là chào máy đào có dung tích gầu 1,25m3. Tuy nhiên khi thi công nhà thầu dùng máy đào 0,8m3, vậy sẽ thanh toán cho nhà thầu theo đơn giá 0,8m3 hay 1,25mm3. Câu hỏi tương tự với các thiết bị thi công khác?

Thi công có thể khác với biện pháp đã chào thầu nhưng cần được sự đồng ý của Tư vấn giám sát cũng như Chủ đầu tư và quan trọng là đảm bảo chất lượng công trình. Ảnh: T.Tuấn

LV trả lời bạn như sau: Việc thi công trong thực tế có thể khác với biện pháp thi công mà nhà thầu đã chào, và việc này sẽ được sự chấp nhận của Tư vấn giám sát cũng như Chủ đầu tư, miễn sao hạng mục công việc đó vẫn đảm bảo chất lượng và được nghiệm thu. Còn việc thanh toán, theo mình sẽ xử lý tùy theo hình thức đơn giá hợp đồng, cụ thể:

–         Với đơn giá cố định và đơn giá trọn gói: Vẫn thanh toán theo đơn giá đã chào thầu mà không quan tâm nhà thầu dùng máy loại nào và công suất bao nhiêu.

–         Với đơn giá điều chỉnh: Thanh toán theo thực tế nghiệm thu, tức trường hợp trên phải thanh toán theo máy có công suất 0,8m3, tuy nhiên trong trường hợp thấy đơn giá theo máy thi công thực tế cao hơn do việc thay đổi loại máy, Chủ đầu tư có thể xử lý bằng cách cho thanh toán theo đơn giá đã chào thầu.

Advertisements

Hỏi đáp về Định mức nội bộ (định mức thi công của nhà thầu)

 Bạn Phạm Hoàng có email với nội dung như sau:
“Kính gửi Thầy Lê Vinh
Em là học viên Lớp Dự toán ngày 14/03 của Công ty CP Giá xây dựng.
 Em làm ở 1 công ty thi công. Em được biết Thầy tìm hiểu rất sâu về Kinh tế xây dựng, Thầy đã làm cả Thi công và Chủ đầu tư.
 Em đang mắc 1 vấn đề muốn xin thầy tài liệu để tham khảo. Đó là:
 Sếp em yêu cầu Lập ĐMXD Nội bộ cho các công tác thi công các Công trình áp dụng trong Hệ thống các Công trình của Công ty
 Em thấy Bài toán này quá khó, Em cũng đã đọc Tài liệu HD lập ĐM của Viện KTXD-Bộ XD. Nhưng thấy rất phức tạp. Tham khảo trên internet nhưng em thấy không có.
 Vì vậy Em Kính đề nghị thầy giúp đỡ chia sẻ cho EM 1 bộ định mức nội bộ của công ty bên thầy hay bất kì công ty thi công nào với ah.
Xin chân thành cảm ơn thầy”
Về câu hỏi này, Lê Vinh có phản hồi như sau:
ĐM nội bộ hay còn gọi là ĐM thi công của nhà thầu, cái này được các công ty hay các xí nghiệp (nhà thầu) xây dựng dựa trên kinh nghiệm cũng như điều kiện thi công của từng công trình, thường thì họ sẽ xây dựng với mức thấp hơn ĐM nhà nước (tiết kiệm hơn) nhằm giảm giá thành sản xuất công trình, tăng lợi nhuận.
Ví dụ như:
Bình thường thép được hao hụt 5% (1 tấn cần 1,005 tấn) nhưng với việc tiết kiệm trong khâu cắt, khâu nối thì người ta có thể dùng chỉ 1 tấn hoặc 0,995 tấn thôi chẳng hạn. Tương tự với các vl như cát, đá, xi măng, vữa xây trát vv… tỉ lệ hao hụt có thể giảm xuống nếu chúng ta tiết kiệm trong khâu vận chuyển, dự trữ vv…
Hoặc trong ĐM nhân công, 1 khối BT cột đổ hết 4,2 công. Tức 4 người đổ 1 khối mất 1 ngày, nếu nâng cao năng suất lao động chỉ cần nửa ngày cũng xong, thậm chí chỉ cần 2 giờ cũng xong. Vậy thì phải điều chỉnh cho phù hợp
Tuy nhiên việc điều chỉnh phải phù hợp với từng công trình và tùy địa điểm xây dựng
Với các gói thầu bỏ giá thấp, đương nhiên phải tìm cách tiết kiệm tối đa
Kinh nghiệm khi xây dựng ĐM:
– Với các ĐM theo 1776, 1777 nếu bạn thấy cao thì nên mạnh dạn hạ xuống
– Với ĐM nhân công có thể giảm nhiều vì giá nhân công khoán có thể rẻ hơn
– Những Máy thi công mà đơn vị mình có (không phải đi thuê) có thể giảm nhiều
– Những ĐM như ván khuôn, trát vv.. hiện nay nhà nước ban hành thấp, rất khó giảm
– Với các gói thầu mà CĐT người ta ko quan tâm đến giá cả lắm, miễn làm nhanh thì việc tiết kiệm quá lại không cần thiết vì có thể làm chậm tiến độ
– Các giảm dễ nhất là: Tính giá cho công tác đó, sau đó căn cứ vào đó mà giảm Định mức xuống. Ví dụ: 1m3 bê tông cột đổ thủ công tính ra theo ĐM đơn giá nhà nước là 2,5 triệu/m3; tuy nhiên thực tế thi công chỉ mất 2,2 triệu thì giảm đi 5-10% chẳng hạn.
Thông thường ĐM mà Bộ xây dựng công bố sẽ cao hơn, và nhà thầu sẽ giảm được nếu tiết kiệm trong thi công. Ảnh: LV
Như vậy Bộ xây dựng ban hành một bộ ĐM với các con số trung bình, là cơ sở để các nhà thầu và Chủ đầu tư xây dựng đơn giá và ký hợp đồng. Trong thi công thực tế, nhà thầu có thể xây dựng lại ĐM sản xuất cho phù hợp để giảm giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đáp ứng chất lượng theo đúng thiết kế và các TCVN.
Chúc bạn thành công!

Chi phí biện pháp thi công – một phần của chi phí công trình

Các công trình ở Việt Nam ngày càng có quy mô lớn và phức tạp, để thi công được những công trình có độ phức tạp như thế đòi hỏi Nhà thầu phải có những biện pháp tổ chức thi công hiện đại cũng như tốn kém hơn các biện pháp truyền thống. Tuy nhiên hiện nay, nhiều nhà tư vấn lập dự toán cho Chủ đầu tư vẫn chưa chủ động đưa thêm phần chi phí vào Dự toán công trình. Bài viết này muốn phân tích về phần chi phí biện pháp thi công và lưu ý thêm với các Chủ đầu tư: đó là một phần chi phí công trình

Chi phí biện pháp chiếm 5-10% dự toán công trình

Biện pháp thi công tầng hầm bằng ép cừ Larsen kết hợp các thanh chống

Với việc thi công một tòa nhà có 2 tầng hầm như ảnh ở trên chẳng hạn, các nhà thầu thường lựa chọn các biện pháp thi công phổ biến như Ép cừ, thi công đào đất rồi bắt đầu thi công từ dưới lên trên hoặc thi công bằng Top-Down. Dù biện pháp nào đi nữa thì có rất nhiều công tác phát sinh ngoài dự toán. Chẳng hạn như biện pháp thi công ép cừ như trên, khi lập dự toán, đơn vị tư vấn có thể bỏ qua các công tác rất phổ biến như:

–         Thuê hoặc Mua cừ Larsen; Ép + nhổ cừ Larsen

–         Mua các thanh thép hình + gia công lắp dựng hệ giằng chống cừ

–         Hệ thang lên xuống thi công

Ngoài ra để thi công một hệ móng + tầng hầm như trên, nhà thầu có thể phải có thêm đường công vụ sử dụng thép tấm, cầu rửa xe đảm bảo vệ sinh môi trường, hệ móng cọc nhồi hoặc móng cọc ép của cẩu tháp vv…

Thi công cốp pha tại dự án Donphin Palaza, Từ Liêm, Hà Nội. Ảnh: Thanh Tuấn

Ở một ví dụ khác, trong hình ảnh chụp lại ở dự án Donphin Palaza tại Hà Nội, có thể thấy biện pháp thi công cốp pha vách ở đây được thi công bằng biện pháp trượt, đồng thời ngay bên cạnh là một hệ cốp pha được lắp dựng thông tầng với chiều cao gần 20m để thi công sàn tầng 5. Với việc thi công như trên, nhà thầu phải đầu tư một hệ thống cốp pha có nhiều điểm khác với định mức nhà nước đã công bố. Đồng thời với việc đó, giá thành thi công sẽ cao hơn nhiều. Cụ thể, với giá 1m2 ván khuôn của phần dần chuyển (sàn thông tầng) ở trên được nhà thầu chào thầu khoảng hơn 1,7 triệu đồng, trong khi nếu chào theo định mức nhà nước thì chỉ vào khoảng hơn 170 nghìn đồng  bằng 1/10 lần)

Như vậy, có thể khẳng định chi phí biện pháp thi công chiếm một phần khá lớn trong giá trị của cả gói thầu, có khi lên đến 10% hoặc hơn. Nếu trong quá trình phê duyệt dự toán, Chủ đầu tư không chủ động đưa các chi phí này vào sẽ làm cho việc đấu thầu của các nhà thầu vượt giá gói thầu được duyệt hoặc nếu Nhà thầu coi đây là phần khối lượng thừa thiếu của gói thầu thì về sau sẽ gây ra việc vượt Tổng dự toán hoặc Tổng mức đầu tư được duyệt.

Giải pháp?

Có nhiều đơn vị tư vấn và Chủ đầu tư giải thích rằng, khi thiết kế thì chưa thể lập dự toán cụ thể vì đâu biết nhà thầu sẽ lựa chọn biện pháp thi công nào khi chào thầu. Điều này là đúng, tuy nhiên để xử lý cũng không khó, chủ đầu tư có thể chủ động phê duyệt thêm một phần chi phí biện pháp thi công coi như phần dự phòng vào tổng dự toán hoặc dự toán phê duyệt. Ví dụ: thêm một đầu công việc hoặc một khoản chi phí biện pháp với giá trị tạm tính bằng 5-10% giá trị của phần dự toán thông thường ở trên.

Lê Vinh

Câu hỏi về Thanh Quyết toán và Đấu thầu:

Một bạn có hòm thư ksxd.duonghai@…. có hỏi về việc thanh toán HĐ điều chỉnh giá như sau:

Ví dụ có 1 hợp đồng đơn giá điều chỉnh cho 1 gói gồm: cọc khoan nhồi, tường barret, móng, …….
E  đã thi công xong giai đoạn phần cọc khoan nhồi, tường barret
Trong thực tế:
1. KL thực tế thi công (có kl của đầu mục công việc lớn hơn khối lượng theo HĐ, có kl của đầu mục lại nhỏ hơn KL  theo HĐ)
2. Đã thanh toán được 2 đợt với Khối lượng thanh toán theo thiết kế( chủ trương thanh toán của CĐT)
Nay CĐT đưa phần kl chênh giữa thực tế thi công và KL thanh toán theo thiết kế của 2 đợtthanh toán trên thành KL phát sinh vậy theo anh là đúng hay sai(các đầu việc thanh toán theo đúng hợp đồng)
Ghi chú:
Đã ký Biên bản bàn giao giai đoạn thi công
Lê Vinh có ý kiến trả lời bạn như sau:
Vấn đề là HĐ đơn giá điều chỉnh, tức:

– KL theo KL thực tế thi công
– Đơn giá theo thời điểm nghiệm thu
Vậy những KL đầu việc mà đã có trong Hồ sơ thiết kế ko thể gọi là KL PS được
KLPS chỉ xảy ra khi:
– CHủ đầu tư thay đổi thiết kế làm tăng giảm KL (ví dụ tăng từ 8 lên 10 cột, giảm từ 22 xuống 22 dầm…)
– Chủ đầu tư đầu tư thêm hạng mục mới (Ví dụ: nhà để xe, sân vườn, thêm nhà vệ sinh vv…)
Nói chung bạn cần tìm những khái niệm về KLPS và giải thích cho CĐT hiểu trong trường hợp này
Trường hợp thanh toán của bạn:
– Các đợt đã TT gọi là tt KL hoàn thành (TT nhanh)-> TT theo đúng KL và ĐG HĐ
– Đã có BB BGGĐ thì bây giờ sắp làm là TT giai đoạn hoặc Quyết toán luôn, và theo KL thực tế và Đơn giá thời điểm nghiệm thu
Chúc bạn thành công!
Một bạn có hòm thư: thanhts.hn@………..có hỏi như sau:
Em chào thầy, em là học viên lớp Lập  Hồ sơ thanh quyết toán ở bên công ty Giá Xây dựng
thầy ơi cho e hỏi trong nghị định 85, điều 40 quy định về chỉ định thầu với gói thầu xây lắp là giá gói thầu < 5 tỷ e vẫn chưa hiểu là giá gói thầu ở đây là giá trị xây lắp(chi phí xây dựng) sau thuế hay  giá này là tổng mức đầu tư(bao gồm các chi phí như :quản lý dự án, tư vấn giám sát, thiết kê….)? thầy giải thích cho em với, em cám ơn thầy
Lê Vinh xin có ý kiến trả lời bạn như sau:
Đã là gói thầu thì chỉ một khoản mục chi phí nào đó thôi em

ví dụ:
– Gói thầu xây lắp phần móng thì chỉ các chi phí XD phần mòng (Gxd móng)
– Gói thầu tư vấn giám sát phần thân thô (Thì chỉ là Gtvgs thân thô)
– Gói thầu bảo hiểm công trình thì chỉ là Bảo hiểm thôi
Em nhầm giữa Tổng mức đầu tư, Tổng dự toán với Giá trị gói thầu rồi
Giá trị gói thầu này lấy theo Kế hoạch đấu thầu, KHĐT xây dựng dựa trên các khoản mục chi phí trong tổng dự toán (nếu đã có) hoặc TMĐT (nếu chưa có Tổng dự toán) em nhé!
Chúc em thành công!